vuongnha-y

Sunday, May 14, 2006

nguoi bao lanh tot

Luật di trú Hoa Kỳ là loại luật phức tạp nhất, do đó, theo yêu cầu của đa số bạn đọc cần am tường và thấu hiểu về luật này, tòa soạn nhật báo Người Việt mời được luật sư Darren Nguyễn Ngọc Chương phụ trách mục “Tìm Hiểu Luật Di Trú.” Luật sư Darren Nguyễn Ngọc Chương là luật sư Việt Nam đầu tiên và duy nhất tại Orange County, California đã được Luật Sư Ðoàn Tiểu Bang California chính thức công nhận là luật sư chuyên môn về ngành Luật Di Trú Hoa Kỳ. Hiện nay California có trên 200,000 luật sư nhưng chỉ có 136 luật sư có bằng chuyên môn về Luật Di Trú, trong số đó có luật sư Darren Nguyễn Ngọc Chương. Ngoài ra luật sư Darren Nguyễn Ngọc Chương đã từng phục vụ lâu năm tại Sở Di Trú Hoa Kỳ (INS). Ông là một luật sư đầy kinh nghiệm và uy tín chuyên trách giải quyết và phục vụ đồng hương Việt Nam về lãnh vực di trú nhiều năm tại California và khắp các Tiểu Bang Hoa Kỳ.


Ðề tài: I-130 Reinstatement


Khi người đứng bảo lãnh mất, thì hồ sơ bảo lãnh có được tiếp tục không?


Ðây là một câu hỏi rất nhiều người thắc mắc. Khi người bảo lãnh chết thì hồ sơ bảo lãnh chết theo người đứng bảo lãnh. Luật di trú từ năm 1952, đơn bảo lãnh sẽ tự động bị hủy bỏ, tính từ ngày người đứng bảo lãnh chết hoặc người được bảo lãnh chết. Nhưng trong trường hợp người bảo lãnh chết, hồ sơ bảo lãnh sẽ không bị hủy bỏ nếu Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp quyết định sự hủy bỏ không thích đáng vì vấn đề nhân đạo. Khi đơn bảo lãnh được quyết định rằng sự hủy bỏ không thích đáng vì nhân đạo, thì đơn bảo lãnh sẽ được phục hồi (tức là reinstated). Lợi ích của sự phục hồi là đơn bảo lãnh vẫn được tiếp tục và ngày ưu tiên (tức là priority date) vẫn được giữ như cũ.

Như tôi đã trình bày như trên, những điều luật này đã có từ năm 1952 và không có gì mới lạ hết. Nhưng đến năm 1996, những hồ sơ nào trong trường hợp nói trên gặp phải trở ngại của mẫu đơn bảo trợ tài chánh. Vì Ðạo Luật Di Trú của năm 1996 đã lập ra điều luật 213A, mà điều luật 213A có sự đòi hỏi là người bảo lãnh phải làm mẫu đơn bảo trợ tài chánh cho người được bảo lãnh. Tiếp vào đó, điều luật 213A không hề nhắc nhở gì đến trường hợp người bảo trợ chết trước khi người được bảo lãnh nhập cảnh Hoa Kỳ. Vì điều luật 213A này, sự phục hồi của đơn bảo lãnh như tôi đã trình bày trên không có giá trị trên thực tế. Dù Sở Di Trú có phục hồi đơn bảo lãnh đi nữa, Lãnh Sự Hoa Kỳ vẫn từ chối chiếu khán hoặc Sở Di Trú từ chối hồ sơ thay đổi tình trạng di trú sang thường trú nhân. Vì không có đơn bảo trợ tài chánh do chính người bảo lãnh đứng ra chịu trách nhiệm như đã định trong điều luật 213A, chính phủ Hoa Kỳ cho rằng đương đơn là gánh nặng cho Hoa Ky khi người đứng tên bảo lãnh qua đời. Vì sự thiếu sót này, vào ngày 13 Tháng Ba năm 2002, Tổng Thống Bush đã ký ban hành đạo luật Family Sponsor Immigration Act of 2002. Ðạo luật này cho phép một người khác bảo trợ tài chánh, không phải người bảo lãnh đứng ra để làm người bảo trợ tài chánh (lý do người đứng đơn bảo lãnh đã qua đời). Người đứng ra làm người bảo trợ tài chánh phải có liên hệ như sau với người được bảo lãnh: Vợ hoặc Chồng, Cha hoặc Mẹ ruột, Cha hoặc Mẹ của người phối ngẫu, Anh Chị Em ruột, con trên 18 tuổi, con dâu, con rể, Anh Chị Em của người phối ngẫu, Ông Bà Nội Ngoại, Cháu Nội Ngoại, hoặc người Legal Guardian (tức là người giám hộ được chấp nhận bởi luật pháp).

Trong trường hợp đơn bảo lãnh I-130 đã được chấp thuận mà người đứng tên bảo lãnh không may chết trước khi người được bảo lãnh nhập cảnh Hoa Kỳ, gặp trường hợp như vậy quý vị phải báo ngay với Service Center của Sở Di Trú (tức là trung tâm di trú) nơi mà đơn bảo lãnh I-130 đã được chấp thuận. Sau khi Service Center của Sở Di Trú nhận được tin tức người đứng đơn bảo lãnh đã chết, Sở Di Trú sẽ gửi một lá thơ cho người được bảo lãnh và báo rằng đơn bảo lãnh đã tự động bị hủy bỏ. Ngay lúc đó người được bảo lãnh có thể làm đơn yêu cầu đơn bảo lãnh được phục hồi vì tính cách nhân đạo. Ðơn yêu cầu đó nên nhấn mạnh vào sự khó nhọc, sự khổ cực nếu người được bảo lãnh không được di dân sang Hoa Kỳ. Quan trọng nhất là đơn yêu cầu phải được kèm theo mẫu đơn bảo trợ tài chánh được ký bởi một trong những người hội đủ điều kiện tài chánh, có liên hệ với gia đình như tôi đã nêu trên. Thường đơn yêu cầu sự phục hồi được nhiều thiện cảm với Sở Di Trú nếu đương đơn là vợ hoặc con nhỏ của người bảo lãnh (đã chết) và đang sống tại Hoa Kỳ. Còn những trường hợp đương đơn ở ngoài Hoa Kỳ, vẫn có thể yêu cầu hồ sơ được phục hồi vì lý do nhân đạo nếu đương đơn bị bỏ rơi lại trong khi cả gia đình đều sống tại Hoa Kỳ. Trong trường hợp Sở Di Trú từ chối không chịu phục hồi đơn bảo lãnh thì lúc đương đơn đó có thể đưa sự kiện ra tòa liên bang Hoa Kỳ yêu cầu tòa liên bang xét lại sự quyết định của Sở Di Trú. Quý vị nên hiểu rằng dù là có luật cho phép thay thế người bảo trợ tài chánh, không có nghĩa là đơn xin phục hồi sẽ được chấp thuận. Ðơn xin phục hồi chỉ được chấp thuận nếu đơn của quý vị hội đủ điều kiện và đáng được phục hồi vì lý do nhân đạo.

Quý bạn đọc nên chú ý rằng những sự trình bày trên được áp dụng vào những trường hợp người bảo lãnh chết trước khi người được bảo lãnh nhập cảnh Hoa Kỳ. Còn trường hợp người được bảo lãnh mà qua đời thì hiện nay trong bộ luật di trú không có điều luật nào được miễn sự hủy bỏ đơn bảo lãnh nếu người được bảo lãnh mất. Nghĩa là nếu người được bảo lãnh mất thì vợ hoặc chồng và những người con độc thân dưới 21 tuổi của người được bảo lãnh (tức là những người được đi theo) sẽ không được tiếp tục di dân sang Hoa Kỳ dưới đơn bảo lãnh đó.


BẢN TIN CHIẾU KHÁN

Theo sự yêu cầu của quý bạn đọc, sau đây là Bản Thông Tin Chiếu Khán cho Tháng Sáu năm 2006.


ƯU TIÊN 1 - priority date là ngày 22 tháng 4 năm 2001, tức là Ưu Tiên được dành cho những người con trên 21 tuổi chưa có gia đình của công dân Hoa Kỳ.


ƯU TIÊN 2A - priority date là ngày 22 tháng 4 năm 2001, tức là Ưu Tiên được dành cho Vợ, Chồng, hoặc Con độc thân dưới 21 tuổi của thường trú nhân.


ƯU TIÊN 2B - priority date là ngày 1 tháng 8 năm 1996, tức là Ưu Tiên được dành cho Con độc thân trên 21 tuổi của thường trú nhân.


ƯU TIÊN 3 - priority date là ngày 1 tháng 8 năm 1998, tức là Ưu Tiên được dành cho Con đã có gia đình của công dân Hoa Kỳ.


ƯU TIÊN 4 - priority date là ngày 1 tháng 3 năm 1995, tức là Ưu Tiên được dành cho Anh, Chị hoặc Em của công dân Hoa Kỳ.


GHI CHÚ: Ðể am tường về việc nhập cảnh Hoa Kỳ đầy phức tạp, mời quý vị đón đọc mỗi tuần mục “Tìm Hiểu Luật Di Trú” và mục “Giải Ðáp Thắc Mắc” trên nhật báo Người Việt phát hành ngày Chủ Nhật ở trang Ðịa Phương, do Luật Sư Di Trú Darren Nguyễn Ngọc Chương phụ trách.


MỌI THẮC MẮC XIN LIÊN LẠC: Luật Sư DARREN NGUYỄN NGỌC CHƯƠNG hoặc Luật Sư LƯU TRỌNG CẨM THƯƠNG của Tổ Hợp Luật Sư NGUYỄN & LƯU, LLP địa chỉ số 120 S. Harbor Blvd., Suite F, Santa Ana, CA-92704. Ðiện thoại (714) 418-2080.

Friday, May 12, 2006

dau khi

Bom Nguyên Tử hiện nay, đã trở thành mối lo ghê gớm với nhân loại, vì sự tàn phá của nó còn kinh khiếp gấp vạn lần, nếu đem so sánh với hai trái bom đầu tiên mà Hoa Kỳ đã thả xuống Nhật Bản vào những ngày cuối của Thế Chiến 2. Hiện các nhà quân sử thế giới đã chia lịch sử chế tạo và xử dụng vũ khí ' Hạch Tâm' thành ba giai đoạn:

- Giai đoạn 1: 1945-1948, Hoa Kỳ độc quyền bom nguyên tử và chấm dứt vào năm 1949, khi Liên Xô thử nghiệm và thành công chế tạo được quả bom đầu tiên.

- Giai đoạn 2: Thời kỳ chiến tranh lạnh, với 5 cường quốc Bom Nguyên Tử gồm Hoa Kỳ, Liên Xô, Anh, Pháp và Trung Cộng. Tuy nhiên chỉ có Mỹ và LX tồn trử nhiều nhất, ba nước còn lại có số lượng không đáng kể.

- Giai đoạn Hiện tại: Sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt, các cường quốc nguyên tử thuộc hai khối, đã thỏa thuận cắt giảm một số lượng vũ khí chiến lược. Trong lúc đó các nước Do Thái, Ấn Độ, Hồi Quốc, Bắc Hàn và Ba Tư..lại tăng cường chế tạo Bom Nguyên Tử, bất chấp lời cảnh cáo của Hội Đồng Bảo An LHQ. Nhật Bản, Nam Hàn và Đài Loan có nhiều Plutonium đã tinh chế, có thể làm được bom NT bất cứ lúc nào nếu họ muốn. Trước năm 1975, VNCH cũng đã có Lò phản ứng NT Đà Lạt nhưng bị Mỹ kềm kẹp nên chỉ hoạt động như là một cơ sở thực nghiệm, dù tài liệu bí mật sau này cho biết khi rút về nước, Hoa Kỳ cũng đã lấy hết các thỏi Plutonium đã tinh chết ở trong lò.

Vì sợ Hoa Kỳ sẽ dùng bom nguyên tử tấn công các nước trên, như đã từng làm với Nhật, sẽ gây nên Thế Chiến 3, nên nhiều quốc gia đã vận động ngoại giao, để ký các Hiệp Ước Ngăn Cấm và Kiểm Soát việc chế tạo vũ khí Hạt Nhân (MTCR), ra đời lần đầu tiên vào tháng 4-1987 có 7 nước đã ký kết Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Đức, Nhật,Ý và sau đó có 26 nước tham dự. Theo Hiệp Ước trên, cấm các nước chuyển giao cũng như chế tạo loại Hỏa Tiễn tầm xa 300km, mang đầu đạn Nguyên Tử 500 cân Anh.

Tuy nhiên Hiệp Ước trên, chẳng được ai thi hành, kể cả Pháp và Trung Cộng. Ngang ngược nhất là Pháp, bất chấp sự phản đối của thế giới, từ tháng 9-1995 tới tháng 5-1996, Tổng thống Pháp là Jacques Chirac, đã tiến hành tám cuộc thử nghiệm Bom Nguyên Tử, trên Quần Đảo Mururou, bằng một ống đào ngầm sâu 1000 m. dưới đáy biển. Theo các nhà khoa học, sức nổ của các cuộc thử nghiệm trên, tương đương với 20.000 tấn TNT, trong lúc hai trái bom mà Mỹ đã thả xuống Nhật vào năm 1945, chỉ có sức tàn phá tương đương với 15.000 tấn TNT. Bởi vậy đâu có trách, đã có tới 10 nước khác, cũng bắt chước Pháp ngấm ngầm sản xuất các loại Hỏa Tiển Đạn Đạo Chiến Thuật hay Chiếc Lược. Như vậy trên thế giới ngày nay, ngoài 5 cường quốc nguyên tử, các nước Do Thái, Ba Tư, Saudi Arab, Pakistan, Ấn Độ, Bắc Hàn, đã có loại Hỏa Tiển tầm xa 1000km. Riêng Do Thái, Ấn, Hồi và Bắc Hàn còn có thêm Bom Nguyên Tử. Đó cũng là lý do mà Hoa Kỳ và Nhật Bổn, đã ký thỏa hiệp triển khai Hệ Thống Hoả Tiền Chống Hòa Tiển, sau nhiều lần thử nghiệm rất thành công, nhằm bảo vệ lãnh thổ Nhật Bổn, Hoa Kỳ, ngăn chống các loại Hỏa tiển tầm xa mang đầu đạn NT của Trung Cộng, Bắc Hàn kể cả Nga tấn công bất cứ lúc nào . Chính điều này đã làm cho Nga và Tàu điên tiết, nên cùng liên kết, xúi Bắc Hàn và Ba Tư đem vấn đề Bom NT hù dọa thế giới, để cho Hoa Kỳ và Nhật phải xét lại sự hợp tác trong Kế Hoạch 'La Chắn Phòng Thủ'.

Chiến tranh lạnh kết thúc, dẫn tới các hiệp ước giảm thiểu và tiêu hủy vũ khí hạt nhân. Nhưng hậu quả của nó để lại, trong đó có việc đem một số lượng lớn chất Plutonium thừa thải, lén lút bán ở chợ trời, đâu có ai ngăn cấm được?

Theo thống kê, chỉ trong thời gian chiến tranh lạnh, thế giới đã sản xuất tới 110.000 đầu đạn nguyên tử. Về dự trử chất phóng xa Plutonium, Mỹ và Nga, mỗi nước có 50 tấn. Đây là vấn đề nan giải, trong việc kiểm soát hay ngăn cấm chế tạo Bom Nguyên Tử. Bởi vậy vào tháng 4-1996, trong cuộc họp thượng đỉnh G7 + Nga, tại Mạc Tư Khoa,về vấn đề an toàn hạt nhân, chất Plutonium không còn bị cấm kỵ, mà sự thật không thể kiểm soát được. Mới đây G7, Nga và các nước Thụy Sĩ, Bỉ, Liên Âu, Cơ quan năng lượng quốc tế (AIEA) lại họp tại Paris, để tìm phương cách ngăn cấm việc tinh luyện Plutonium, vào mục đích quân sự. Có nhiều biện pháp được đề nghị nhưng cuối cùng gần như bế tắc, vì hiện nay đã có hằng trăm tấn Phlonium tồn đọng trên thế giới, trong số này đã có một lượng lớn đem bán cho các nước để làm Bom Nguyên tử, trong đó có Ba Tư và các Tổ chức Khủng bố Quốc tế.

Đức thường tự hào về hàng rào Quan Thuế và Đội Cảnh Sát đặc nhiệm (BND) thế nhưng Pltonium từ Nga cũng vẫn lọt rào vào ngày 10-8-1994, trong chuyến bay của Hảng Hàng Không Đức Lufthansa, mang số LH3369, đã phát hiện ba hành khách Tây Ban Nha + Columbia, đã mang theo 50 gam chất Plutonium đã tinh chế, sẳn sàng làm bom NT, trong lúc đó Iraq chỉ mới chế được chưa tới 10 gam chất Plutonium, thì đã bị thế giới la ó, cuối cùng đất nước tan hoang vì bom đạn Mỹ.

Tuy nhiên những vụ buôn lậu chất phóng xạ, không phải chỉ xãy ra ở Đức mà còn phát hiện nhiều lần tại Thụy Sĩ. Tháng 10-1991 cảnh sát Zurich đã phá vở vụ buôn lậu 1 kg chất Plutonium, tính chuyển sang Đức. Điều quan trọng nhất, là trong tất cả các dịch vụ trên, chỉ tóm được người bán hay kẽ vận chuyển, chứ không hề biết được ai là người mua? kể cả báo cáo điều tra của chính quyền sở tại cũng thật mơ hồ. nhưng lại muốn ám chỉ là của Liên Xô cũ. Dĩ nhiên Nga đâu có để yên, nên đã phản pháo lại ' Tại sao đã có hằng trăm vụ buôn lậu chất Plutonium ngay trên nước Đức, mà chính quyền chẳng cho biết ai là người mua, thì nội vụ đã được sáng tỏ.. Vã lại, đâu phải chỉ có Nga mới có chất Plutonium?'

Nhưng sự kiện trên, đã không còn là lời qua tiếng lại giữa các nước liên hệ, mà trở thành một điểm nóng tại Ba Tư, một quốc gia Hồi giáo ở Trung Đông. Theo nhận xét chung của hầu hết các phân tích gia chính trị quốc tế, thì rõ ràng Tổng thống Iran là Mahmoud Ahmadinejad, đang làm xiết trên dây, đưa đất nước mình vào hố chiến tranh hủy diệt, khi công khai, thách thức và đương đầu với Hoa Kỳ, Do Thái và Liên Âu, về việc mình đang tiếp tục tinh luyện Plutonium và trên hết là đã có sẳn một trái Bom Nguyên Tử, chờ hủy diệt Do Thái. Dĩ nhiền Irael, một cường quốc NT thứ ba trên thế giới hiện nay, trong kho đang chứa hằng ngàn vũ khí hũy diệt, tối tân không thua Mỹ Nga, còn vượt trội hơn Anh-Pháp, có bao giờ để Ba Tư múa may quay cuồng và ra tay trước. Ngày tận thế của nhân loại đang chực chờ, vì một cuộc chiến NT không biết sẽ nổ ra lúc nào, vì chẳng ai biết được kể cả Mỹ-Nga.Cuộc chiến Đông Dương lần thứ 2 (1955-1975) vô cùng ác liệt, do khối Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế dàn dựng xâm lăng. Người Mỹ dùng chiêu bài Tự Do-Dân Chủ, để có cớ can thiệp, cứu giúp VNCH. Nhưng thực chất cuộc chiến, cũng chẳng qua vì chiến lược, muốn lôi kéo Trung Công thành một Đồng Minh , để chống lại Liên Xô trong Chiến Tranh Lạnh. Đó là ý nghĩa Cuộc Đông Du Ký vào năm 1972 của Cặp Nixon-Kissinger tại Bắc Kinh thăm viếng Mao Trạch Đông-Chu Ân Lai. Sau đó , năm 1973 ký Hiệp định ngưng bắn với Cộng Sản Bắc Việt. Ngày 29-4-1975 chính thức bỏ Sài Gòn chạy trên mái nhà. Ngày 30-4-1975, VNCH bị cưởng chiếm, qua lệnh đầu hàng của TT.Dương Văn Minh. Người Mỹ hoàn thành thế chiến lược quốc tế,thuyết phục được Trung Cộng thành đồng minh , đứng về phe mình, chống lại Liên Xô.

Năm 1979, Tổng Thống Jimmy Carter ký Hiệp ước với Đặng Tiểu Bình về quan hệ ngoại giao Mỹ-Trung Cộng, để chống lại Liên Minh Quân sự Liên Xô-Việt Cộng-A Phú Hản. Dựa vào bình phong Mỹ, Trung Cộng đã công khai xâm lăng tấn chiếm lãnh thổ VN. Ngược lại Hoa Kỳ cũng dựa thế liên minh Mỹ-Hoa, làm sụp đổ Đông Âu và Liên Xô vào đầu năm 1990. Năm 1998, vợ chồng Tổng Thống Bill Clinton lại sang Bắc Kinh thăm Giang Trạch Dân,ký Hiệp Thương Kinh Tế nhưng thực chất chia hai thiên hạ, lấy con ngáo ộp Bắc Hàn qua Bom Nguyên Tử, để Hoa Kỳ có cớ tiếp tục hiện diện tại Đông Á và Thái Bình Dương. Ngược lại, Trung Cộng được Mỹ bưng bợ vào LHQ một cách hợp lý, tham dự vào các Diễn Đàn Quốc Tế, như là một cường quốc hiện tại.

Ở Trung Đông, ai cũng biết Osama Bin Laden và Saddam Hussein, đều được CIA nuôi dưỡng, võ trang và tài trợ lúc ban đều. Ngoài sự liên hệ trên, cả hai coi như kẻ tử thù, tuy về sau cùng trở cờ chống lại người Mỹ. Bởi vậy Saddam Hussein đã thẳng tay tiêu diệt Al-Qaeda và Nhóm Hồi Giáo cực đoan của Bin Laden. Đó là điều mà Hoa Ky-Anh, hiểu rõ hơn ai hết từ sau năm 1990. Nhưng Saddam Hussein lại là vua của Kho Dầu-Khí lớn thứ hai trên thế giới, nên phải bị tiêu diệt. Đó là lý do, cho tới bây giờ, cà TT.GW Bush hay Thủ tướng Anh Tony Blai.. vẫn chưa tìm thấy dấu tích, bất cứ thứ vũ khí sát hai nào, có trên lãnh thổ Iraq hay sự cấu kết giữa Hussein, Bin Laden và tổ chức Hồi giáo cực đoan Al-Qaeda.

Tóm lại tất cả cũng vì DẦU HỎA, được cả thế giới ngày nay, coi như một thứ vũ khí tối thượng của Đế Quốc Toàn Cầu Mới. Vì Dầu Hỏa, Mỹ Nga luôn tranh chấp, qua cuộc Chiến Tranh Lạnh, khắp thế giới nhưng gây cấn nhất là Miền Trung Á, Khu vực Caucase và nay Điểm Nóng đang dồn về Iraq và Iran, qua Danh Xưng ' Ngăn Chận chế tạo Vũ khí Nguyên Tử và Tiêu Diệt Khủng Bố ' , mà hầu như cả thế giới đều biết . Mở Lò NT để lọc Uranium kiếm Plutonium để dành làm Bom, ở đâu cũng có, mà mới nhất là Brazil vừa tuyên bố khánh thành Trung tâm tinh chế Uranium tại Rio De Janeiro, chứ đâu phải chỉ có tại Ba Tư. Hơn nửa nếu Iran làm loạn, chừng nào mới tới phiên Hoa Kỳ và Liên Âu nhảy vào, vì nước hứng chịu đầu tiên là Do Thái. Còn khủng bố ngày nay, đã vào tới tận Mỹ, Anh, Pháp, Nga cả Trung Cộng.

1 -CHẤT PHÓNG XẠ PLUTONIUM VÀ BOM NGUYÊN TỬ:

Năm 1941, Gleen Seaborg Khoa học gia người Mỹ, đã tìm ra được chất Plutonium. Đây là một hóa chất phóng xạ, dễ tập trung hơn chất Uranium, rất hiếm quý trong tự nhiên nhưng nếu tìm thấy, lại ở dạng cực nhỏ, lẩn lộn với quặng Uranium. Vì lý do khan hiếm , nên các nhà Bác học đã phải tinh chế chất Plutonium nhân tạo tại phòng thí nghiệm, qua phương pháp trộn lẫn Uranium 235 và 238, trong các lò phản ứng hạt nhân. Năm 1945, lần đầu tiên Plutonium được Hoa Kỳ ứng dụng vào mục đích quân sự, để sản xuất hai trái bom nguyên tử thả xuống Nhật Bản. Từ năm 1960, Pháp là một trong những quốc gia theo đuổi việc sản xuất chất phóng xạ nhân tạo, qua kế hoạch ' Poing Nucléaire'. Từ năm 1970 về sau,vì các quặng Uranium trở nên quý hiếm và đắt giá, nên Plutonium được thế giới xử dụng,,nhất là Hoa Kỳ, Liên Xô, Pháp, để thay thế Uranium trong các lò phản ứng. Nhưng chi phí điều hành các lò phản ứng rất cao, trong lúc đó nhiều quặng mõ Uranium mới, lại được tìm thấy, khiến cho Pháp và nhiều nước khác, phải đóng cửa nhà máy.

Vấn đề nan giải nhất của thế giới ngày nay, đó là việc kiểm kê thật sự số lượng dự trữ Plutonium, mà Nga-Mỹ đã trưng ra 100 tấn hiện có. Trong khi LHQ, nhất là Anh-Mỹ, lúc nào cũng muốn thổi phòng chuyện chế tạo chất phóng xạ Plutonium, thì tại Nga và các nước Cộng Hòa, chư hầu cũ của Liên Xô, bị rẽ rúm như cỏ rác. Ở đây, người ta dễ dàng lượm nhăt một lượng chất phóng xạ, đủ chế tạo được 20 trái bom nguyên tử. Khắp nơi, nhiều kiện hàng chứa Plutonium, sẵn sàng chuyển tới Teheran (Ba Tư). Kinh khiếp nhất là tại Một Tổ Hợp Sản Xuất Bom NT của Nga, có hàng tấn chất Plutonium (Pu), được chứa trong một ngôi nhà cũ kỷ, chỉ có hai người và một con chó bảo vệ.

Do đồng lương chết đói, cộng với việc đánh cắp chất Plutonium quá dễ dàng, chỉ cần một chiếc vali lót chì, là có thể chuyển chất phóng xạ đem bán khắp nơi.,nên người Nga nào có dịp cũng muốn làm giàu, qua dịch vụ béo bở nhát hiện nay. Đó là buôn bán chất phóng xạ, mà khách hàng quen thuộc vẩn là các nước Ả Rập giàu có, Ba Tư và đâu có thiếu người Mỹ. Ngày 12-11-1994, Kazakhstan đã bán cho quân đội Mỹ 2,3 tấn vật liệu phân hạch, trong số này có 500 kg WGU (weaponsgrade uranium), có thể tinh chế được 20 trái bom NT. Việc mua bán được che đậy, bằng một kế hoạch mang tên Project Sanphire, ngoài mặt thì chính phủ nước này đề nghị Mỹ, giúp tống khứ những chất liệu hạt nhân, mà người Nga khi rút đi, đã bỏ lại tại nhà máy luyện kim Ulba.

Nhà kho này bị Nga bỏ hoang hằng chục năm qua và đã được bán lại cho Ba Tư , mà bằng chứng, là còn nhiều thùng gổ chứa nguyên liệu chế tạo bom nguyên tử, đề địa chỉ Teheran nhưng chưa gửi kịp. Tuy nhiên đây cũng chỉ là một trong hằng trăm địa điểm của LX cũ, đã phá sản, không hề có an ninh, kiểm kê, khiến cho bọn khủng bố hay kẽ trộm, có thể đánh cắp dễ dàng để làm bom nguyên tử. Hiện người Nga đang tiến hành việc tháo gở 40.000 đầu đạn nguyên tử, đã được gắn khắp nơi ở Liên Xô cũ, với mức độ 2000-3000 trái /1 năm. Tình trạng này đã gây nên sự thất thoát trầm trọng và đầy hiểm họa cho nhân loại, vì việc phổ biến hạt nhân, điển hình là Bắc Hàn và Ba Tư.

Tóm lại ngày nay, chế tạo một trái bom nguyên tử quá dễ dàng, với vật liệu, vài nhà vật lý, kỹ sư và các bí quyết, cùng ngân khoản chừng 300.000 đô la. Cái khó nhất trong quá khứ, là làm sao để có vật liệu, tức là việc sản xuất Pu hay HEU (High enriched uranium), những thứ này như đang bị vứt bỏ trên khắp lãnh thổ Liên Xô cũ., có tiền là mua mang về, mà không cần phải mở lò NT, vừa phiền toái lại bị LHQ và Mỹ bắt chẹt.

Từ năm 1970, Hoa Kỳ đã khởi xướng Hiệp Ước không phổ biến vũ khí hạt nhân và tới nay đã có 178 nước ký nhận nhưng Ba Tư, Nam Dương, Ấn, Hồi và Mễ Tây Cơ không muốn tham dự., nêu lý do là Do Thái đã không chịu ký hiệp ước, mặc dù đã có 14 nước Trung Đông từng thúc giục. Nhưng họp thì họp, trong lúc đó nhiều nước cứ công khai như Pháp, Trung Cộng hay âm thầm như Do Thái, Ả Rập Thống Nhất, Bắc Hàn, Ba Tư, Ấn, Hồi ..vẫn đều đặn sản xuất Plutonium để làm bom NT.

Tháng 9-1995, bất chấp sự phản đối của thế giới, người Pháp đã tiến hành đồng lúc 8 cuộc thử nghiệm bom NT, để bổ sung cho 18 Hỏa Tiển đang đặt ở căn cứ quân sự Albion, bằng đầu đạn TN-75 hay loại hỏa tiển M-45, trang bị cho các tàu ngầm nguyên tử. Đây cũng là mục tiêu của Pháp đang theo đuổi, sẽ chế tạo được Hỏa tiễn M-5 với đầu đạn TN-100, hoàn toàn mới, được trang bị cho các tàu ngầm NT. Đồng thời cải tiến hệ thống phòng thủ, tấn công của Hỏa tiễn ASLP, có thể gắn trên máy bay phản lực chiến đấu Rafale. Có điều mai mĩa, là trong vụ này, người Mỹ cũng đã nhúng tay giúp về khoa học và bán các loại máy gia tốc chụp tia X và máy điện toán Cray T3E. Cần biết thêm là Pháp bắt đầu thử nghiệm Bom NT, theo lệnh của TT.De Gaulle tại Sa mạc Sahara ngày 13-2-1960, trong khi đó Mỹ và Liên Xô đã ngừng thử nghiệm hạt nhân, từ tháng 11-1958 cho tới tháng 9-1961, mới chạy đua trở lại vì chiến tranh lạnh.

Tại Nam Á, hai nước Ấn và Hồi luôn luôn coi như tử thù, vì vậy không ngớt chạy đua trong việc tìm tòi, sản xuất các loại vũ khí chiến lược, trong đó có bom NT. Mấy năm nay, Hồi quốc coi như đã hợp tác với Hoa Kỳ, trong cuộc chiến tại A Phú Hản vào năm 2001. Trong chuyến công du thế giới của Nữ Ngoại Trưởng Mỷ, bà Condoleezza tháng 3/2006, đã mang theo ân huệ của TT Bush, ban cho Ấn Độ, về một thỏa hiệp song phương, giúp cho nước này phát triển vũ khí hạch tâm, dù rằng Ấn chẳng bao giờ chịu ký Hiệp Ước NPT. Hành động trên của Mỹ, vừa bất công đối với các Bắc Hàn, Ba Tư..lại hoàn toàn đi ngược với lời hô hào của chính người Mỹ, về tinh thần tôn trọng các Hiệp ước quốc tế, mà phần lớn Mỹ là tác giả.

Ai cũng biết, Hồi và Ấn, dã không chịu ký tên vào Hiệp ước NPT, lại tự ý phát triển sản xuất bom NT, nên đã bị Hoa Kỳ trừng phạt bằng biện pháp cấm vận kinh tê-quân sự. Điều này, Mỹ cũng đang muốn áp dụng với Ba Tư, Bắc Hàn và các nước khác, không chịu theo lệnh kiểm soát của Cơ quan Nguyên tử Quốc tế (IAFA) . Nhưng khi Tổng thống Hồi Quốc Pervez Musharraf, theo Mỹ chống Taliban, thì Hoa Kỳ đã như muốn quên ngay lệnh cấm vận với nước này. Riêng Ấn Độ, một đồng minh chiến lược mới của Mỹ tại Nam Á, trong Liên Minh Quân Sự chống Trung Cộng, chẳng những được bỏ lệnh cấm vận, mà Hoa Kỳ còn yêu cầu, được giúp đở và viện trợ kỹ thuật hạch tâm, cho nước này. Bất công như vậy, trách sao Bắc Hàn, Ba Tư luôn chống đối và coi thường nước Mỹ. Đây cũng là lý do, khiến cho thế ngoại giao của Mỹ càng lúc càng thất bại, lẽ loi, mất đồng minh kể cả những nước đang ngửa tay xin tiền Mỹ như Phi Luật Tân, Ai Cập, Thái Lan, Nam Hàn.

2- BA TƯ VÀ BOM NGUYÊN TỬ:

Ba Tư có diện tích 636.293 dặm vuông (1.648.000 km2), dân số hơn 62 triệu người, tuy theo Hồi giáo nhưng không phải là người Ả Rập, gồm các sắc dân Persia (Ba Tư), chiếm đa số, còn lại là người Azerbaijani và Kurdish. Ngôn ngữ chính là tiếngFarsi, thủ đô Teheran hơn 6 triệu người, chưa kể ngoại ô. Ngoài ra còn nhiều thành phố lớn như Isfahan (1.422.308 ng), Mashed ( 2.038.388 ng),Tabriz (1.566932 ng). Đạo Hồi được coi như là quốc giáo nhưng Ba Tư khác với các quốc gia Ả Rập, theo hệ phái Shiite, chiếm tới 93%, còn phái Sunni chỉ có 5%, không đáng kể. Lạnh thổ Ba Tư hầu hết là cao nguyên, phía bắc giáp Biển Caspian, Azerbaijan và Turkmenistan. Phía tây giáp Thổ Nhỉ Kỳ và Iraq. Phía đông giáp Afghanistan và Pakistan. Phía nam nằm trên vịnh Persia.

Tài nguyên chính là dầu hỏa và được tập trung hầu hết ở phía Nam, sát Vịnh Ba Tư. Từ năm 1938 bắt đầu sản xuất dâù, đã chiếm tới 4,8% tổng số lượng của thế giới và sau đó càng lúc càng gia tăng, đem về cho ngần sách lên tới 18 tỷ 700 triệu đô la, vào năm 1972. Từ tháng 4-1950, Ba Tư là đồng minh chiến lược và nhận viện trợ của Hoa Kỳ. Nhưng vua Shah Mohammmed Reza Pahlavi, không được lòng dân nên bị truất phế và sống lưu vong tại ngoại quốc vào ngày 16-1-1979.

Tháng 2-1979 Khomeini từ Pháp về nước, dep tan phe đảng của Thủ tướng Shahpur Bakhtiar, lên làm Lãnh tụ tối cao (Velayat Faghih), thiết lập Chế độ Cộng hòa Islam IRAN, tước bỏ tất cả mọi quyền tự do cá nhân, tẩy xóa nền văn minh Tây Phương,đưa con người trở lại cõi hồng hoang, thời đồ đá, không khác gì cảnh tượng tại Miền Nam VN sau ngày 30-4-1975, khi Cộng Sản chiếm được Sài Gòn. Về ngoại giao, Khomeini ban lệnh quốc hửuhóa toàn diện cơ xưởng kỹ nghệ , nhà máy lọc dâù của tư nhân và ngoại quốc, công khai ra mặt thù hận và chống đối Mỹ, Anh lẫn Nga Sô.

Ngày 4-11-1979, nêu lý do Hoa Kỳ dung dưỡng cựu hoàng Pahlavi, nên Khomeini ra lệnh Vệ binh cách mạng, tấn công chiếm và bắt giữ toàn bộ Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, trong đó có Đại sứ, nhân viên hơn 50 người, làm con tin trong 444 ngày. Trước 1 giờ, khi Reagan lên nhiệm chức Tổng thống Mỹ lần thứ nhất, vào ngày 20-1-1981, Khomeini mới chịu thả con tin Mỹ về nước

Tại Trung Đông, Khomeini không che dấu ý đồ biến các quốc gia Hồi giáo trong vùng, thành chư hầu của cái gọi là ' Cách mạng Islam Iran ', qua đạo quân khủng bố của Teheran là Tổ chức Hizballah tại Leban và Nhóm người Kurd tự trị tại Bắc Iraq.

Tự ngàn xưa Iraq và Iran coi như tử thù, vì tranh chấp chủ quyền trên Thủy lộ Shatt Al-Arab. Lúc đó Iraq là đồng minh của Liên Xô,lại có Pháp-Anh-Mỹ chống lưng giúp vũ khí, mượn dịp trên, xua quân chiếm đóng một phần lãnh thổ Ba Tư vào tháng 8-1980. Chiến tranh vô cùng ác liệt, Ba Tư dù lớn và đông dân hơn Iraq, nhưng quân đội yếu kém vì đa số các sĩ quan tài giỏi được Tây Phương huấn luyện từ trước, đã bị Khomeini giết chết trong các Trại cải tạo, nhà tù. Còn vũ khí quân dụng mua của Mỹ ngày xưa, cũng đã lỗi thời. Vì vậy tinh tới tháng 9-1984, Ba Tư đã tử trận hơn 100.000 người (Iraq 50.000 chết ). Thêm vào đó, Ba Tư lại bị TT Mỹ Carter cấm vận, nên nguồn cung cấp vũ khí, quân dụng của Khomeini chỉ nhờ vào buôn lậu, đâu có đủ cung ứng cho chiến trường. Tình trạng trên, làm cho kinh tế Ba Tư thêm suy thoái, khiến cho đất nước càng hổn loạn. Qua sự can thiệp của quốc tế, ngày 20-8-1988 chiến tranh Iraq-Iran chấm dứt.

Tháng 6-1989 Khomeni chết, được Khameni lên thay, còn Hashemi Rafsanjani làm tổng thống Ba Tư nhưng thể chế vẫn không có gì thay đổi. Riệng việc Khomeini chịu trả con tin cho Mỹ, là do sự đánh đổi của Reagan ngay khi bước vào Tòa Bạch Ốc, nhận chức Tổng thống. Đó là việc Mỹ rrả lại cho Ba Tư số tài sản ký thác hơn 8 tỷ MK, cùng với toàn bộ gia sản của cựu hoàn Pahlavi. Mỹ còn đi đêm với Khomeini, bằng cách cho Do Thái bí mật bán vũ khí cho Ba Tư. Để che đậy những bí mật hậu trường, qua vụ 241 TQLC Mỹ bị khũng bố gài bom chết tại Beirat vào tháng 10-1983, Mỹ la lối tố cáo Ba Tư và Lybia đang bảo trợ cho khủng bố. Ngày 2-1-1984, Hoa Kỳ cùng các nước đồng minh, phát động chiến dịch ' Staunch', cấm bán vũ khí cho Ba Tư. Thù hận giữa hai nước kéo dài từ ấy đến nay, chẳng hề sút giảm, chỉ đợi dịp, nhất là lúc này Ba Tư được Nga và Trung Cộng bưng bợ mua bán dầu, nên càng công khai chống Mỹ và Do Thái dữ tợn.

Do những thù oán cũ trên, nên trước khi Mỹ đánh Iraq vào ngày 20-3-2003, TT G.W.Bush đã từng coi Ba Tư và Bắc Hàn, là nhóm 'Roque Countries' Sau khi đắc cử Nhiệm kỳ 2, TT Bush , cũng từng tuyên bố với báo chí là thể chế dân chủ của Palestine và Iraq, sẽ là mẫu mực của các quốc gia tại Trung Đông. Đúng hơn TT Bush đã nói rõ ràng, là sẽ tiếp tục con đường ngoại giao, để thay thế chế độ độc tài hiện có ở Ba Tư và Bắc Hàn

Nhưng Ba Tư chỉ thay đổi Tổng Thống và vẫn giữ nguyên chế độ có từ thời Khomeni., khi Mahammed Ahmadinejad,một kẻ cuồng tín, từng bị tố cáo là khủng bố, đã chống lại Mỹ và Liên Âu, muốn cấm vận Iran vì nước này đã tinh chế được chất Uranium từ 7 tấn khí đốt. Sự đối đầu càng mạnh thêm, khi Nga và Trung Cộng đứng sau lưng chống đở. Nhưng bài học rất thấm thía, còn đó đối với VC năm 1979 và gần nhất là câu chuyện Saddam Hussein, chỉ vì quá tin vào lời hứa của Nga và Trung Cộng phụ hoạ, công khai đối đầu với Mỹ-Anh. Rốt cục Nga-Trung Cộng chạy làng khi chiến tranh khởi diễn, Saddam Hussein thân bại danh liệt, nhà tan cửa nát, đất nước Iraq bị bom đạn tàn phả thảm thê, khiến dân chúng lầm than tận tuyệt, hứng chịu thãm họa khủng bố hằng giờ, tới nay vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt.

Đó là câu hỏi lớn của Iran đang bước trên lối mòn của Iraq,trước bờ vực bị hũy diệt của một cuộc chiến tranh nguyên tử, qua thái độ kiên quyết của Mỹ, Do Thái và Liên Âu..luôn muốn tiêu diệt thể chế độc tài tại Ba Tư, với rất nhiều lý do , chứ không phải chỉ có vấn đề một trái bom NT, mà nước này đã tuyên bố..

Theo nhận định của các nhà quân sử trên thế giới, thì hiện nay không có một quốc gia nào kể cả Nga,Trung Cộng, Anh, Pháp..có đủ tiềm lực chống nổi với siêu cường kinh tế-quân sự Hoa Kỳ Hai cuộc chiến thắng thần thánh ở hai mặt trận, được coi là bát khả xâm phạm: A Phú Hản năm 2001 và Iraq năm 2003, đã nói lên sự vô địch của người Mỹ, dưới tài lãnh đạo của TT Diều Hâu Bush. Sự kiện nước Mỹ, bị khủng bố tàn khốc tại New York ngày 9-11-2001 và liên tiếp chịu thêm nhiều thiên tai tàn phá, nhưng đã lấy được sự yên ổn tức khắc. Trong khi đó các nước Anh, Pháp và nhiều nơi trên thế giới vẫn bị nổ tung và tiếp tục bốc cháy vì khũng bố Hồi giáo cực đoan. Lý tưởng thà chịu hy sinh chiến binh ở các mặt trận hải ngoại, để tạo sự ấm yên cho hậu phương, luôn là tôn chỉ , quốc sách của Hoa Kỳ ngay từ thời lập quốc. Nếu sợ hao người tốn của, như một số người lầm tưởng, thì Hoa Kỳ đã chẳng theo đuổi gần 20 cuộc đại chiến, từ năm 1945 tới nay. Gây chiến mới có cơ hội bán vũ khí, vừa quảng cáo vai trò siêu cường của mình, đồng thời mới có đủ tiền cung ứng cho ngân sách quốc phòng, sản xuất và tìm kiếm vũ khí mới, mở rộng chương trình vũ trụ không gian. Liên Xô, quốc gia rộng và nhiều tài nguyên nhất thế giới, vì chạy đua vũ trang với Mỹ, đã phải tan rã vào năm 1991. Ai gây chiến với Mỹ, kết quả đều bị phá sản vì không làm sao có đủ tiền để tiếp tục canh bạc, luôn được tố xã láng của kẻ giàu.

Theo sự phân tích của Quân sử gia Anthony Cordesman, cái thế mà Ba Tư dám ngang nhiến ra mặt thách thức với Hoa Kỳ, là chính trị và tâm lý, chứ không phải quân sự. Thực chất quân đội Ba Tư hiện nay, nếu đem so sánh còn thua quân đội Iraq, thì làm sao có thể đương đầu với Liên quân Hoa Kỳ-Do Thái, nay còn thêm Khối Bắc Đại Tạy Dương. Trên lý thuyết, có 2000 xe tăng, 300 máy bay đủ loại, 3 tiềm thủy đỉnh và chừng 10 dàn phóng phi đạn Scud do Nga chế + 1 trái bom NT không biết đã có hay chưa ? Mới đậy Ba Tư còn có loại Phi đạn Bình phi (Cruise Missiles) X-55 mua của Ukraine và loại Phi đạn tầm xa do Bắc Hàn sản xuất Shabbab-3, cùng với quân số chừng nửa triệu, nhưng nếu chịu liều mạng vì các giáo sĩ cuồng tín Ba Tư hiện nay, chắc cũng chỉ là Thành phần Vệ binh Cách mạng trên 120.000 người.

Nhưng tất cả cũng chỉ là thổi phồng để lấy vải the che mắt thánh, vì ai cũng biết quân lực Ba Tư đã gần như kiệt quệ sau 8 năm chiến tranh với Iraq. Trong lúc đó, các giáo sĩ Hồi giáo cực đoan cầm quyền, chỉ lo yểm trợ các Tổ chức khủng bố ngoại vi, nên đâu có dành ngân khoản lớn cho Bộ Quốc phòng để canh tân quân đội, bổ sung mua sắm chiến cụ vũ khí mới. Tóm lại , vũ khí mà Ba Tư mong mõi đạt chiến thắng, là Đội quân tình báo nằm vùng có mặt khắp nơi trên thế giới, kể cả Âu Châu và Hoa Kỳ. Ngoài ra còn hai Tổ chức Khủng bố Herbollah và Hamas, đang hoạt động quấy nhiểu ngay trong lãnh thổ Do Thái. Trên Ấn Độ Dương, Ba Tư có một bờ biển dài, án ngự vịnh Persian, eo biển Hormuz ngang qua United Arab Emirates, cùng với vinh Bengal. Tất cả đều là thủy lộ chuyển dầu quan trọng, từ Trung Đông, Trung Á, Iraq về Cận Đông, Úc và Châu Mỹ..hiện đang do Đệ Lục Hạm Đội cùng Hải quân Ấn Độ phòng thủ. Tuy nhiên làm sao tránh được sự phá hoại của Ba Tư, nhắm các tàu chuyên chở dầu, khiến cho giá cả cao thêm, dẫn tới sự khủng hoảng kinh tế thế giới, hiện đã bắt đầu lố dạng.

Đây không phải là điều nói suông, mà là sự thật đã được các cơ quan tình báo quốc tế cho biết, dựa theo tin của một tờ báo bằng chử Arab xuất bản tại Luân Đôn. Theo tin trên, hiện Ba Tư đã tuyển dụng, tài trợ cho 8 tổ chức khủng bố Hồi giáo cực đoan và kết hợp chúng lại thành Lực lượng Đặc biệt, có nhiệm vụ khủng bố phá hoại , để trả đủa Mỹ và Đồng Minh khi các cơ sở NT tại Ba Tư bị hủy diệt. Các lực lượng khủng bố tương tự, cũng được thành lập tại Iraq do Nhóm Hồi giáo cực đoan Al Sadr chỉ huy. Tại Palestine có Nhóm khủng bố Hezbollah..Chiến thuật mói được thi hành, đó là Bom xe, bom người..đã gây rất nhiều thiệt hại nhân mạng trên chiến trường Iraq hiện nay.

Sau cùng là lá bài ' Nga - Trung Cộng', mà ai cũng biết, hiện Ba Tư và Nga đang hợp đồng khai thác dâù khí tại Biển Caspien. Nơi này từ lâu đã là trung tâm dầu khí của Nga, trong đó có thanh phố Volgagrad (Stalingrad), có nhiều xưởng lọc dầu. Nga cũng đang giúp Ba Tư bảo quản Nhà máy điện Nguyên tử Busherh, trị giá cả tỷ đô la, do Nga. Sau rốt, Ba Tư là khách hàng thứ 2, về việc tiêu thụ vũ khí của Nga



Với Trung Cộng, Ba Tư là nước cung cấp 50% số lượng dầu thô. ngược lại thị trường Ba Tư đầy rẩy hàng hó , thượng vàng hạ cám của Tàu. Chính vậy, nên cả hai nước Tàu-Nga, luôn bày tỏ sự bất đồng với Mỹ-Liên Âu về chuyện NT của Iran. Tại LHQ mới đây, cả Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa, đã yêu cầu Hội Đồng Bảo An, chỉ nên ra một Nghị Quyết nhẹ nhàng có tính cách ngoại giao đối với Ba Tư, mà không được trừng phạt như đề nghị của Mỹ-Anh-Pháp. Theo lời tuyên bố của Vương Quang Á (Đại sứ Tàu) và Vitalin Churkin (Nga), thì Iran không phải là hiểm hoạ, mà chính sự trừng phạt Iran theo điều 7 của Hiến chương LHQ, mới là nguyên nhân của một cuộc chiến mới tại vùng Vịnh.

Được hai quan thầy hứa hẹn, ngày 7-5-2006, Tổng thống Iran lại tuyên bố , sẽ rút ra khỏi Hiệp ước NT và như thế những sự trừng phạt sẽ thành vô nghĩa. Còn quốc hội Ba Tư thì tìm cách đuổi phái đoàn của LHQ đang thanh sát để tìm những cơ sở NT của nước này.

Mấy lúc gần đây, trên bàn cờ chính trị, Nga đang cùng với Trung Cộng không ngớt múa may quay cuồng, để hăm nóng lại cuộc chiến tranh lạnh, giữa hai khối tư bản và cọng sản vừa qua, cứ tường đã chấm dứt sau khi Liên Xô và Đông Âu tan rã. Buổi trước Hoa Kỳ và Liên Xô dù đã gây cấn đến thế nào chăng nữa, cũng chỉ đấu võ mồm mà không hề đối mặt trên chiến trường. Nguyên do là tiềm lực nguyên tử cả hai đều cân bằng và sự kìm hãm này, đã không còn nửa vì hiện tại Nga không phải Liên Bang Sô Viết, đã thua kém Hoa Kỳ về kinh tế, quân sự, trong đó có vũ khí hạt nhân.

Một điều quan trọng khác mà ai cũng thấy, là kho dự trữ Hạt Nhân của Nga càng lúc càng sút kém từ số lượng tới phẩm chất, vì không có đủ ngân khoản bảo trì, canh cải như Hoa Kỳ. Vì vậy, Nga từ năm 2000 tới nay, đã có nhiều tàu ngầm nguyên tử phải nằm ụ hay bất khiển dụng. Nhiều cuộc thử nghiệm tìm vũ khí mới của Nga, nhằm chống lại chương trình Lá Chắn của Mỹ, cũng thất bại. Tệ hơn là chuyện tờ báo Kommiersan của Nga, vừa tiết lộ tin mật rằng 'Nga hiện nay chẳng còn một VỆ TINH TÌNH BÁO nào trên quỹ đạo'.

Hiện tại, Nga, Trung Á, Trung Đông, Ba Tư và Iraq..hầu như đang nắm trong tay chìa khóa của một cuộc chiến tranh lạnh khác về Năng Lượng. Việc Ba Tư dùng Bom Nguyên Tử để hù dọa thế giới, chẳng qua cũng chỉ vì mục đích làm tăng vọt giá dầu và khí đốt (có thể lên tới 100 US/1thùng), ít ra cũng giúp cho Nga phần nào thêm phương tiện, sản xuất loại Hỏa Tiển mới Bulava và Topol-M, hầu thay thế các lọai cũ đã lổi thời. Bài bản trên của Nga và Ba Tư, tuy đã làm cho Hoa Kỳ, Nhật, Liên Âu và cả Trung Cộng lo lắng nhưng thực chất thì ai cũng biết rõ.

Chính vì vậy, nên trong cuộc họp Thượng đỉnh Hoa Kỳ-Liên Âu có Nga tham dự vào ngày 30-4-2006, Nga đã bị nhiều nước trong đó có Mỹ, chỉ trích là đã xử dụng dầu lửa và khí đốt, như là một thứ vũ khí chiến lược, để đạt quyền lực và phương tiện mở rộng ảnh hưởng, như Liên Xô ngày xưa đã lấy bom nguyên tử và chủ thuyết cộng sản để kìm kẹp nhân loại. Tóm lại, nước Nga ngày nay qua Putin, đã phạm rất nhiều sai lầm to lớn, khi đã khai chiến với Ba Lan, Ukraine..về dầu khí, với Liên Âu và Hoa Kỳ về Iran. Hành động này, chắn chắn sẽ gặp phải phảnứng mạnh của đối phương, nhất là Mỹ đang có quyền lợi về dầu lửa, khí đốt cùng nhiều căn cứ quân sự tại Trung Á. Nhiều sự cố quan trọng mới xảy ra trên chính trường quốc tế, làm cho mọi người có cảm tưởng là chính phủ Bush đang hâm nóng lại chiến tranh lạnh, chứ không phải họ đang tính chuyện cầu hòa hoặc sợ sệt, trước tỷ lệ ủng hộ xuống thấp của dân chúng trong nước, hay sự chống đối của đảng Dân Chủ trong Quốc Hội Mỹ. Câu chuyện khôi hài về Chủ tịch Trung Cộng Hồ Cẩm Đào, trong chuyến công du Mỹ tháng 4-2006, được báo chí đánh giá là vô cùng nhục nhã. Đó là chuyện Mỹ giã vờ lầm lẫn, khi giới thiệu bản quốc thiều Tàu là 'Trung Hoa Dân Quốc', thay vì ' Trung Cộng'. Cũng trong buổi tiếp tân tại Tòa Bạch Ốc, một nữ ký giả Đài Loan cũng là tín đồ của Pháp Luận Công, đã công khai nhục mạ Hồ trước mặt quốc tế, với tội danh ' Đàn áp tôn giáo ' , kéo dài tới ba phút mới bị An ninh đuổi ra ngoài. Đây cũng là sự trả lời gián tiếp cho Trung Cộng, đừng lợi dụng Mỹ đang lúng túng trong thế ngoại giao, mà lên mặt múa may.

Cũng mới đây, trong Hội nghị quốc tế của Nga và các nước Cộng hòa củ, của Liên Bang Sô Viết, nhóm tại thủ đô Vilnius của Lithuania. Ngay trong hội nghị, Phó TT Mỹ Cheney đã nói thẳng với Nga ' Một là tiếp tục con đường dân chủ hay làm kẻ thù '. Hai sự kiện trên, đã nói lên thái độ lựa chọn của Hoa Kỳ, để đối đấu với ba trận tuyến cùng lúc: Tỏ lập trường về việc sản xuất bom NT của Iran và Bắc Hàn, đối đầu với Nga trong việc giúp các nước CH củ của Liên Xô, thực thi dân chủ và trên hết là Trận Tuyến Năng Lượng, mà Trung Cộng đang nhúng tay vào, để lủng đoạn các nước xuất cảng dầu, trong đó có Ba Tư.

Cuối cùng là việc TT Bush, đã chỉ định Đại tướng Không Quân Michael Hayden, thay John Negroponte, làm Giám đốc Cơ Quan Tình Báo Quốc Gia , nhằm thuần nhất sự chỉ huy của quân đội và đất nước Hoa Kỳ trong thời chiến, qua việc Bộ Quốc Phòng đang xử dụng tới 80% Ngân sách Quốc gia, dành ưu thế tuyệt đối cho người lính , đang trách nhiệm bảo vệ đồng bào và đất nước. Tất cả thông điệp trên đã gởi nhưng Nga và Trung Cộng chưa có phản ứng nào, vì cả hai đã quá rõ TT Bush, dám nói dám làm như đã chứng minh tại A Phú Hản và Iraq.

3- BA TƯ VÀ TRẬN TUYẾN NĂNG LƯỢNG:

Mặc dù Collin Powell, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ luôn nhấn mạnh rằng ' Dầu Lửa' không phải là mục tiêu của cuộc chiến Iraq, song vẫn không thuyết phục được ai. Hiện nay Iraq đang sở hữu 11% trữ lượng dầu thế giới với mức khai thác từ 112-200 tỷ thùng và là nước bán dầu thô rẽ nhất. Trong tình hình phát triển kinh tế thế giới từ nay tới năm 2020, với nhu cầu tiêu thụ mỗi ngày 112 triệu thùng. Để cung ứng nhu cầu trên, phải có dầu của 6 nước Saudi Arab, Ba Tư, Iraq, Kuwait, Liên Minh Ả Rập Thống Minh và Venezuela mới đủ. Hoa Kỳ là nước tiêu thu dầu nhiều nhất. Tóm lại trữ lượng Dầu của Iraq hiện có, tương đương với tổng số dầu của Mỹ, Canada, Mexico, Úc, Tây Âu, New Zealand, Trung Cộng và tất cả các nước không thuộc Trung Đông. Ngoài ra Dầu của Iraq sản xuất hằng ngày, chỉ mới bơm tại 7 giếng, trong tổng số 15 hiện có, mà đã có tới 115 tỷ thùng. Tóm lại vì dầu, xưa nay Iraq luôn là miếng mồi ngon của các đế quốc Tây Phương

Mặc dầu Mỹ có trữ lượng Dầu tới 22 Tỷ thùng nhưng chỉ dành cho các mục tiêu chiến lược, còn nhu cầu hằng ngày đều là Dầu Nhập Khẩu . Cũng vì nhu cầu này, mà Hoa Kỳ đã phải thâm thụt ngân sách. Giá dầu hiện nay đã lên quá 70 đô la /1 thùng , tại California đã hơn 3 US/1 Galons và đang còn tiếp tục lên mãi không ngừng nghĩ. Theo nhiều chuyên gia về dầu lửa, trong đó có David O'Reilly, chủ tịch công ty Chevron Texaco Corp và Unocal mới mua, hiện đang khai thác dầu ở Thái Lan và Miến Điện, đều cho biết dầu dự trử đã không phong phú như người ta tưởng.

Trong khi đó, càng lúc Trung Cộng và Ấn Độ, càng tăng mức tiêu thụ dầu lên tới 7%, so với Hoa Kỳ và các nước tiền tiến công nghệ Âu Châu, Nhật..nhiều gấp 8 lần. Tóm lại, chỉ trong vòng 10 năm qua, Á Châu đã tiêu thụ láng số dầu dư thừa dự trữ của các thập niên trước. Đây chính là lý do làm tăng giá dầu hiện nay. Điều này cũng đã xảy ra vào những thập niên 60-70, khi nền kinh tế của Âu Châu và Nhật Bổn phục hồi phát triển sau thế chiến 2. Sự cố đã làm cho giá dầu tăng thêm 20% vào năm 1971, làm ảnh hưởng đến nên kinh tế cả thế giới, gây cảnh hổn độn cũng vì giá dầu tăng.

Để giải quyết sự độc tôn của các nuớc sản xuất dầu, gọi chung là OPEC, thời đó nhiều nước đã tìm được các mõ dầu ở Mexico, Bắc Hải, Nam Dương, Châu Phi và Bắc Alaska. Ngày nay, nhân loại cũng cứ tiếp tục tìm dầu tại Nga, Phi Châu, Trung Á và Vịnh Mễ Tây Cơ. Riêng Hoa Kỳ, chính phủ sắp cho phép khai thác dầu ở Alaska, Lawrence Golstein, mà theo các chuyên gia, số dự trữ dầu lên tới 6-15 tỷ thùng. Song song dầu còn được sản xuất từ Hắc in, sức gió , Ethanol, rượu Acohol biến chế từ bắp. Những thứ trên, có thể cung cấp xăng, như là một thứ nhiên liệu cần thiết hiện nay.

Cuối cùng giải pháp chận đứng việc tăng giá dầu,có chạy đường trời cũng phải do chiến tranh giải quyết, mà khởi đầu là biện pháp trừng phạt kinh tế cấm vận, như đã xảy ra tại Iraq trước đó. Ba Tư là quốc gia sản xuất dầu lửa hạng nhì trên thế giới,nên không thể nào thoát ra được những hệ lụy liên quan tới năng lương. Trước mắt nếu mọi thứ không giải quyết được bằng hòa bình ngoại giao, qua áp lực của Hội Đồng Bảo An LHQ, tẩy chay mà không cần cấm vận, Ba Tư sẽ không còn số ngoại tệ gần 50 tỷ mỹ kim tiền bán dầu, dùng thực hiện các cơ sở hạ tầng và cải thiện đời sống của dân nghèo trong nước.

+ CUỘC TRANH CHẤP DẦU LỬA TẠI TRUNG Á, GIỮA MỸ-NGA:

Giống như thế kỷ XIX, lần này miền Trung Á lại nổi lên sóng gió đầy trời, mà đầu tiên tại nước Turkménistan,vừa tìm được nguồn dự trữ khí đốt, dầu hỏa khổng lồ, đồng thời với dự án đặt ống dẫn dầu về phía Viễn Đông, mà không cần phải qua Nga và Ba Tư như trước.

Turkménistan nguyên là hoang mạc nghèo nàn, suốt thời kỳ thuộc Liên Xô. Từ năm 1991 nước này được độc lập, nên Tổng thống Saparmyrat Niyazov đã mời Hoa Kỳ vào khai thác tài nguyên. Kết quả đã tìm thấy trong vùng Karakoum, một kho tàng khổng lồ, gồm mõ dầu với trữ lượng 6 tỷ thùng và khoảng 3000 tỷ khí đốt. Triển vọng tương lai đầy hứa hẹn của quốc gia Hồi giáo này với 4 triệu dân, đã bị khựng lại. Nguyên do cũng vì sự tranh chấp quyên kiểm soát Trung Á của Nga-Mỹ, dẫn tới bao hỗn loạn ở vùng Caucase, A Phú Hản..khiến Mỹ cấm vận Ba Tư và gây cấn với Nga.

Do tình hình bất ổn, nên người Mỹ đã phải ngưng kế hoạch đặt ống dẫn dầu và khí đốt từ Turkménistan, tới các nước Đông Á, Pakistan, Vịnh Ba Tư và Châu Âu. Đề tiếp tục tìm kiếm nguồn dầu khí, Hoa Kỳ lại chuyển hướng sang nước Ouzbékistan cũng nhiều tài nguyên không thua gì nước láng giềng. Con đường tơ lụa ngày xưa, nay cũng chính là hệ thống ống dẫn dầu và khí đốt.

Trước đây cả Trung Á thuộc Liên Xô, nên người Nga độc quyền sản xuất dầu hỏa khí đốt toàn vùng, sang Âu Châu. Nay thì tình thế đã đổi thay, Trung Á đã độc lập, mở cửa cho người Mỹ, đổ tiền bạc vào đầu tư, ráo riết tranh giành ảnh hưởng với Nga. Vì thế từ năm 1995, trở về sau, thủ đô Tachkent của Ouzbékistan, trở thành trung tâm đầu tư của các Hảng khai thác dầu Mỹ. Chiến tranh dầu hỏa đã bắt đầu, giữa hai phe Hoa Kỳ, Ouzbékistan, Turkménistan, Do Thái, Thô Nhĩ Kỳ, Pakistan, Kazakhstan..đối đầu với Nga, Ba Tư, Kirghizistan.

Một dự án vĩ đại đã được hoạch định, do sự hợp tác của các công ty Exxon (Mỹ), Mitsubishi (Nhật) và National Petroleum Corp (Trung Cộng), nhằm xây dựng một đường ống dẫn dầu-khí, dài trên 8000 km. Đường ống này hoàn toàn chạy ngoài lãnh thổ Liên bang Nga và Ba Tư, nhằm dẫn dầu-khí của Turkménistan, sang tận nước Nhật. Theo dự án, đường ống dẫn này, sẽ tiếp nhận thêm dầu-khí của các nước Kazakhstan, Ouzbekistn và Tân Cương, với chi phí thực hiện lên tới 22 tỷ đô la. Đặc biệt , đường ống này sau khi tới bờ biển Trung Cộng, sẽ chìm dưới đáy biển sang Nhật Bổn. Nếu không có gì thay đổi, công tác sẽ hoàn thành vào năm 2010.

Một đường ống khác cũng dự trù sẽ thực hiện, dẫn dầu khí Trung Á xuống A Phú Hản và Pakistan. Ngoài ra còn có đường ống dài 278km, do Thổ và Ba Tư liên doanh với Turkménistan, sang Châu Âu. Cuộc tranh chấp dầu nay đã đến hồi quyết liệt, đến nổi chính phủ Mỹ phải thành lập một Ủy Ban đặc biệt, phụ trách việc khai thác dầu-khí tại Trung Á và quanh Caspienne, gồm Hội Đồng ANQG, Bộ Quốc Phòng, CIA . Do nhu cầu toàn vùng, Hoa Thịnh Đốn phải để cho Turkménistan tồn tại, khi nước này đang hợp tác với Ba Tư.

+ DẦU HỎA BIỂN CASPIENNE, CON BÀI CHIẾN LƯỢC CỦA HAI PHÍA:

Sự xung đột xảy ra từ trước tới nay ở khu vực Caucase, đều do nguyên nhân vùng này là trung tâm của mọi ống dẩn dầu từ biển Caspienne tựu về. Đây là tham vọng lớn của Nga có từ lâu đời, muốn tất cả sản lượng dầu hỏa khai thác tại Biển Caspienne, phải chạy qua lãnh thổ cuả mình, thông qua đường ống dẫn cũ từ Bakou (Azerbaidjan)tới Novorossiisk(Nga). Nhưng mọi sự giờ đã nằm ngoài tầm tay của Nga. Đó là sự kiện ngày 17-4-1999, một đường ống dẫn mới, dưới quyền kiểm soát của Khối Nato, đã được khánh thành. Đường này nối liền Bakou với hải cảng Soupsa (Géorgie), trên bờ Hắc Hải, với sự hợp tác của Liên Âu và các nước Géorgie,Ukraine,Azerbaidjan và Moldavie.

Tháng 10-1999, hai nước Thổ và Azerbaidjan lại hợp tác xây thêm một đường ống dẫn thứ 2 từ Bakou tới hải cảng Ceyhan của Thổ ở Điạ Trung Hải. Như vậy, tất cả dầu hỏa và khí đốt tại Miền Nam Liên Xô cũ trước kia, quanh Biển Caspienne, đã không còn liên hệ tới Nga nửa. Ngoài ra âm mưu cắt đứt ống dẫn dầu trong lãnh thổ Nga, luôn xãy ra vì Lực lượng kháng chiến quân Tchétchénie thực hiện. Tình trạng nguy ngập đến nổi, người Nga đã phải dùng xe bồn để vận chuyển dầu, ngược về hướng Bắc tránh lãnh thổ Daghestan luôn bị tấn công đe dọa. Từ năm 1997, Mỹ đã liên kết được với Azerbaidjan, đặt nhiều căn cứ chiến lược quanh biển Caspienne. Mong ước của Hoa Kỳ là tìm cho được nguồn cung cấp dầu khí , độc lập với Nga và Ba Tư, Tuy nhiên ý định trên đã vấp phải sự trả đủa của Khối sản xuất dầu OPEC, qua thủ đoạn thả nổi giá cả và dùng các phần tử Hồi giáo khủng bố, phá hoại các đường ống dẫn.

+ MỸ LOẠI BA TƯ VÀ NGA RA KHỎI MÕ DẦU TRUNG Á VÀ CASPIENNE:

Vùng biển Caspienne và kho vàng đen dưới đáy của nó, có diện tích bằng nước Nhật, được khai thác từ cuối thế kỷ XIX, với trữ lượng hơn 10% của thế giới, tính theo thời giá hơn 4000 tỷ đô la. Nhưng khu vực Caspienne ngoài địa thế vô cùng hiểm trở, hiện cònbị khống chế bởi du kích quân ly khai Chechnya và Kurd. Bởi vậy nên chi phí khai thác dầu ở đây rất tốn kém và đầy nguy hiểm.

Sau khi Liên Xô tan rã, các công ty dầu Mỹ, Âu Châu, Nhựt, Trung Cộng, Nam Mỹ kể cả người Nga..thi nhau vung tiền ra khai thác. Bakou, thủ đô của nước Cộng Hòa Azerbaijan, hiện là nơi đặt trụ sở của hầu hết các nước đang khai thác dầu. Tới nay, đã có 12 công ty dầu, do British Petrolium (Anh) và Amoco (Mỹ) dẩn đầu, đã sản xuất được 145.000 tấn dầu. Một đường ống dẫn, từ Bakou, xuyên qua lãnh thổ Azerbaijan, tới tận hải cảng Novorossisk trên bờ Hắc Hải. Theo thời gian, dầu càng lúc càng được khai thác nhiều hơn, nên lại phải đặt thêm nhiều đường ống lớn.

Với ba nước nằm ven biển Caspienne là Azerbaijan, Kazakhstan và Turkmenistan, đều muốn gạt bỏ Nga và Ba Tư, cũng là hai nước nằm ven biển này. Sự kiện này đã khiến cho hai nước trên rất thù hận người Mỹ đã dùng tiền bạc mua chuộc ba nước cộng hòa cũ, để chiếm kho báu vàng đen, vốn thuộc Nga và Ba Tư từ lâu đời.

Chính Tổng thống Bush cha và Phó Tổng thống Cheney.là những người mở đường cho chính phủ Mỷ đặt chân tới Trung Á và Biển Caspienne, từ tháng 7-1997 Tại vùng này, người Mỹ chẳng nhửng thẳng tay loại bỏ Ba Tư ra khỏi khu vực khai thác, mà còn có ý định không để cho bất cứ nước nào, khống chế độc quyền về đường ống, trong đó có Nga.

Đó mới chính là nguyên nhân của cuộc xung đột mới hiện nay, giữa Mỹ-Do Thái-Liên Âu với Ba Tư-Nga-Trung Cộng. Người Nga đã phẩn uát trước lãnh thổ và tài nguyên củ của mình, ngày nay đã bị ngoại nhân dành giựt khai thác và chiếm hết ảnh hưởng chính trị toàn vùng.

Với Ba Tư lại càng căm hận Mỹ và Tây Phương. Trên diễn đàn thế giới, Ba Tư luôn trưng dẫn các bản Hiệp ước đã ký với Liên Xô năm 1921 và 1940, để dành chủ quyền của mình nơi kho báu quanh biển Caspienne. Ngoài ra còn quảng cáo rằng lãnh thổ của mình, mới chính là con đường ngắn nhất, để vận chuyển dầu từ Trung Á và vùng Caspienne ra biển. Nhưng nói gì thì nói, qua áp lực và tiền bạc Mỹ, hai nước Nga và Ba Tư, đã bị loại khỏi cuộc chơi. Những con đường ống dẫn dầu mới được thưc hiện, dẩn dầu khí toàn khu vực, ra Viễn Đông, xuống Nam A, tới Âu Châu..được đặt trên lãnh thổ của Kazakhstan,Turkmennistan, A Phú Hản, Thổ Nhĩ Kỳ..ra các vùng biển. Riêng Pháp đã xé lẽ, khi tự làm một đường ống Bắc-Nam, qua Ba Tư ra vùng Vịnh, với chi phí trên 4 tỷ đô la, sự tớn kém đâu có thua gì của Mỹ.

Tóm lại tất cả các sự đối đầu của Mỹ đã và đang xảy ra, hầu hết đều có dính dấp tới năng lượng. Dầu rất quan trọng với Hoa Kỳ trong quá khứ và cũng sẽ là vấn đế sinh tử của tương lai. Dầu cũng là thứ vũ khí giết người vô số kể trong thế giới của người Ả Rập .Bởi vậy nếu cuộc chiến có xảy ra lần này, Mỹ đánh Ba Tư, cũng chẳng qua vì dầu. Còn nói là Mỹ quan tâm tới bom NT, chắc các nước Bắc Hàn, Hồi Quốc và Ấn Độ..đã bị tiêu diệt từ lâu -/-

Xóm Cồn

Wednesday, May 03, 2006

hen suyen - allegie

Khi bị một chứng bệnh khó chữa (tiếng Hán Việt là nan y), cuộc đời thường nhật của chúng ta và của những người thân kế cận sẽ thay đổi rất nhiều. Bệnh tật có lẽ là một loại khổ lớn hạng nhất trong các thứ khổ ở đời, một thứ tai nạn không ai muốn gặp. Nhưng khi bị nan y, nếu người bệnh biết cách sống sao cho tâm họ có được sự bình thản, thì họ đã có tới nửa phần hy vọng vượt qua được cơn bệnh dữ. Nếu tinh thần sa sút, bi quan trước cơ thể đau yếu, thì phần thoát hiểm sẽ bị giảm đi khá nhiều.

Trong thời hiện tại, với nền y khoa tân tiến và sự phát triển của đời sống tâm linh, nhiều người bị nan y vẫn sống được cuộc đời bình thường của họ. Cũng có những người đặc biệt, biết hưởng hạnh phúc tự tâm, hơn cả thời kỳ họ còn chưa bệnh. Ðó là những con người có khả năng dạy cho chúng ta nhiều bài học quý giá, đầy minh triết. Không phải chỉ có các thánh nhân, các tu sĩ đạo hạnh mới làm được như thế, mà ngay trong cuộc đời quanh ta, có nhiều con người bình thường đã sống được như vậy, khi tâm thức họ được chuyển hóa thật sự trong cơn bạo bệnh.

Trong mục này, chúng tôi sẽ chọn đăng một số lời giảng dạy của nhiều bác sĩ và tác giả Âu Á có thẩm quyền về những phương cách sống với các bệnh nan y, cũng như những kinh nghiệm của nhiều người đã có cuộc sống hòa bình, an vui sau khi bị bệnh nan y - thứ tai họa ngẫu nhiên, chẳng ai muốn gặp, chẳng ai mời, nhưng cứ tới kỳ là nó đến! (T.H.)


TỪ DỊ ỨNG TỚI HEN SUYỄN


Phong ngứa hay dị ứng (allergy) là sự phản ứng của cơ thể chúng ta đối với sự xâm nhập của các độc tố (allergen) vào máu, sản phẩm của các vật ngoại lai như phấn hoa, bụi, lông chó mèo, cỏ dại, một số thực phẩm (đậu phụng, đồ biển, thịt bò...) Khi bị dị ứng, chúng ta có thể bị nổi mề đay, ngứa ngáy; hắt hơi sổ mũi, ho hắng và nặng hơn thì khó thở. Dị ứng (allergy) có thể đưa ta tới bệnh hen suyễn (asthma), tuy hai bệnh không giống nhau và có nguyên nhân khác nhau.

Khi bị chứng hen suyễn tấn công, bắp thịt ngực bị co lại, ta thở rất khó khăn vì lỗ mũi, cổ họng, khí quản và cuống phổi đều bị sưng, bị thu hẹp lại. Người bệnh cảm thấy nghẹt thở, thở ra tiếng (hen) và đau ngực. Khi bị lên cơn quá nặng có thể tử vong.

Khi hít thở bình thường, không khí được dẫn qua khí quản vô cuống phổi, rồi phân tán theo các nhánh dẫn khí trong phổi, càng vô sâu càng nhỏ, tới các túi khí gọi là alveoli. Trong túi khí alveoli đó, dưỡng khí trong hơi hít vô sẽ hòa vào dòng máu để được dẫn đi nuôi cơ thể, đồng thời, thán khí thải ra từ các cơ quan được máu đem tới phổi, sẽ cùng hơi thở ra, bị tống xuất ra ngoài.

Khi bị suyễn, các bắp thịt ngực săn cứng, bóp lại, các chất nhờn trong mũi và cổ họng bị đặc lại, làm nghẽn các khí quản lớn nhỏ trong buồng phổi, khiến cho không khí dơ (nhiều CO2) không thoát ra được như thường lệ. Lá phổi không có chỗ nhận thêm không khí tốt qua hơi thở vào, nên người bị suyễn không thể hít cho đủ dưỡng khí, dù các bắp thịt cổ cố gắng tối đa. Cơn suyễn có thể làm cho bệnh nhân bất tỉnh hay nguy hiểm tới mạng sống nếu không được cấp cứu kịp thời...


Những con số thống kê


Theo tài liệu của Hội Hen Suyễn Hoa Kỳ, trong nước Mỹ có khoảng 50 triệu người bị dị ứng và khoảng 20 triệu người bị bệnh suyễn - trong đó hơn một nửa do biến chứng của các bệnh dị ứng. Nhiều loại thuốc dị ứng được bán không cần toa bác sĩ. Người bị dị ứng hiểu rằng không nên để chứng allergy trở nên quá nặng - cần phải dùng thuốc sớm, và tránh không ăn những gì làm họ bị dị ứng.

Hàng ngày có khoảng 40 ngàn người nghỉ học hay nghỉ làm vì bị suyễn và làm tốn công quỹ Hoa Kỳ khoảng $18 tỷ mỗi năm. Suyễn là một căn bệnh kinh niên phổ thông nhất của trẻ em, có khoảng 5 triệu bệnh nhân suyễn tại Hoa Kỳ nhỏ hơn 18 tuổi. Phụ nữ bị suyễn nhiều hơn nam giới. Nói chung khoảng 3-5% người lớn và 7-10% trẻ em bị suyễn. Con số bệnh nhân và tử vong vì hen suyễn từ thập niên 1980 tới nay đã tăng lên khá nhiều. Ngày nay, số trẻ em dưới 19 tuổi bị chết vì suyễn tăng tới 80% so với con số của hai thập niên trước! Người bệnh suyễn chiếm một phần tư số bệnh nhân vô phòng cấp cứu tại các bệnh viện Mỹ và mỗi năm có khoảng 500 ngàn người phải nhập viện.


Vì sao bị hen suyễn?


Có nhiều nguyên nhân làm cho ta bị suyễn, như di truyền từ bố mẹ qua con cái, các chứng dị ứng nặng, các chứng cảm cúm, nhiễm trùng và tinh thần bị căng thẳng (stress). Thống kê cho biết có 20% trẻ bị suyễn vì di truyền, thường phát bệnh từ khi chưa được hai tuổi. Các biến động tâm lý cũng có thể là yếu tố gây ra bệnh suyễn nơi trẻ em.

Không khí nhiều khói thuốc lá hay có những khí độc, phấn hoa, đều có thể làm cho người ta bị suyễn. Người ta cũng nói tới những lý do khác như sự nghèo túng, môi trường xấu và trình độ hiểu biết về sức khỏe của bệnh nhân suyễn. Các công nhân xưởng dệt, công trường xây dựng hay làm lâm sản, thủy sản... có thể bị suyễn dễ hơn người khác. Người Mỹ da đen vô bệnh viện vì suyễn đông gấp ba lần các giống dân khác. Phụ nữ da đen bị suyễn gần gấp ba lần nhiều hơn đàn bà da trắng.


Yếu tố tâm lý trong bệnh suyễn


Từ năm 1190, các y sĩ Maimonides đã đề cập tới liên hệ tâm lý và bệnh suyễn. Thập niên 1930 họ đề cập tới trường hợp các trẻ em phải xa mẹ sớm thường bị suyễn nhiều hơn trẻ khác. Ngày nay, y giới cho rằng tâm lý có ảnh hưởng vào sự phát sinh bệnh suyễn, cũng như các bệnh khác, tùy vào các yếu tố di truyền và môi trường sống của chúng ta.

Bác Sĩ Tâm Lý David Mrazek tại trung tâm nhi khoa thủ đô Washington DC cho biết: xúc động tâm lý mạnh ở tuổi thiếu thời là một trong 5 yếu tố làm cho bệnh suyễn phát triển. Bốn yếu tố kia là:

- Lượng kháng dị ứng (Antibodies Immunoglobulin E) trong máu quá cao.

- Bị vi khuẩn tấn công ngay trong năm mới được một-hai tuổi.

- Sống trong môi trường nhiều bụi hay gần thú vật (chó mèo).

- Di truyền từ cha mẹ.

Ngoài việc dùng các loại thuốc làm giãn nở khí quản, nhiều bác sĩ chữa trị bệnh suyễn bằng các phương pháp tâm lý như cho bệnh nhân tập thư giãn (relaxation), tập nhận biết tâm thức mình (cognitive therapy). Họ cũng dùng phương pháp tâm lý hành xử (behavioral therapy), chữa chung một nhóm (group therapy) hay chữa bệnh tâm lý cho cả gia đình v.v.. Kết quả của các phép này nhằm vào hai mặt: vừa giảm thiểu các yếu tố tâm lý làm bệnh nặng thêm, vừa giúp bệnh nhân biết cách sống bình thản với bệnh hen suyễn.