vuongnha-y

Wednesday, March 31, 2010

Bảo lãnh thân nhân từ VN: Tại sao phải chờ visa?

ấy tháng nay người bảo lãnh cho con có gia đình cảm thấy vô cùng bực dọc vì ngày đáo hạn visa của diện này (F-3) cả bốn năm tháng nay cứ giậm chân tại chỗ và không biết phải chờ bao lâu nữa. Tại sao? Tại sao?

Ðể trả lời câu hỏi này ta phải tìm hiểu sơ lược về các điều khoản liên quan đến số visa cấp cho người hội đủ điều kiện vào Mỹ theo diện di dân (immigrant visa) mỗi năm.

Số visa di dân do Quốc Hội phê chuẩn và được ấn định bởi điều khoản 201 của luật di trú (Immigration National Act, viết tắt là INA). Ðiều khoản này ấn định số chiếu khán di dân tối thiểu cho đơn bảo lãnh thân nhân thuộc loại phải sắp hạng theo ưu tiên (family-sponsored preference) là 226,000.

Chỉ có những người sau đây là không nằm trong quy định của điều khoản trên, nghĩa là không phải chờ visa, đó là những người thuộc loại thân nhân trực hệ của công dân Hoa Kỳ(immediate relatives) gồm:

1. Cha/mẹ của công dân Mỹ.

2. Vợ/chồng của công dân Mỹ

3. Con độc thân dưới 21 tuổi của người có quốc tịch Mỹ.

Ðiều khoản 203 INA chia các ưu tiên visa như sau:

F-1: Con độc thân từ 21 tuổi trở lên của công dân Mỹ được cấp 23,400 visa cộng thêm số visa còn dư lại của ưu tiên F-4.

F-2A (vợ/chồng và con độc thân dưới 21 tuổi của thường trú nhân) và F-2B (con độc thân: từ 21 tuổi trở lên của thường trú nhân): 114,000.

- F-2A chiếm 77% của 114,00 Visa này.

- F-2B lấy 23% còn lại.

F-3: Con có gia đình của công dân Mỹ: 23,400 Visa.

F-4 Anh chị em (độc thân hoặc có gia đình): 65,000 Visa.

Nhìn vào bảng cấp khoản Visa trên ta thấy số Visa dành cho F-3 và F-1 bằng nhau mà thời gian chờ Visa của F-3 lại lâu hơn F-1 vì số người chờ visa của F-3 đông hơn số người chờ Visa của F-1. (Sở dĩ đông hơn vì đem theo cả vợ/chồng con)

Mặc dầu số visa cấp cho mỗi hạng hàng năm không thay đổi nhưng số người chờ visa của mỗi hạng thay đổi tùy theo từng thời kỳ nên ta không thể nói trước được hạng nào phải chờ bao nhiêu năm. Số visa dành cho mỗi nước bằng nhau, nhưng vì số người chờ visa của mỗi nước khác nhau nên thời gian chờ visa của mỗi nước khác nhau. Thí dụ: Thời gian chờ visa của hạng F-3 của Phi Luật Tân và Mễ Tây Cơ là 18 năm, trong khi ở các nước khác chỉ có hơn 9 năm.

Ðặc biệt năm nay F-3 chờ rất lâu, ngày đáo hạn visa giậm chân tại chỗ mấy tháng rồi vẫn không nhích được một ngày (ngày đáo hạn visa của F-3 của tháng 4 năm 2010 vẫn là 22 tháng 5 năm 2001).

Mới đây Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ công bố bản báo cáo “Báo Cáo Hàng Năm Về Ðơn Xin Chiếu Khán Di Dân Ðăng Ký Với Bộ Ngoại Giao Từ 1-11-2009”.

Bản báo cáo này cho ta thông tin về số người của mỗi hạng hiện đang chờ visa.

F-1: 245,516

F-2A: 324,864

F-2B: 517,898

F-3: 553,280

F-4: 1,727,897

Số người chờ visa hiện nay lên tới 3,369,455 vượt hẳn so với Tháng Giêng năm 2009 là 2,723,352.

Số người chờ visa của mỗi nước là:

Mexico: 1,178,761

Phi Luật Tân: 82,694

Trung Quốc (Lục Ðịa): 197,559

Ấn Ðộ: 194,954

Việt Nam: 184,692

...

Năm ngoái, 2009, số người Việt Nam vào Mỹ theo diện di dân là: 20,079 chia ra như sau:

- Diện trực hệ (IR): 7,563.

- Các diện phải chờ visa: 12,435.

- Diện đặc biệt: 11.

- Diện công nhân: 24.

Dưới đây là thông báo Chiếu khán Di Dân của tháng 4 năm 2010:

F-1: 08 tháng 7 năm 2004 so với tháng 3 năm 2010 tiến lên được 14 ngày

F-2A: 01 tháng 6 năm 2006 so với tháng 3 năm 2010 tiến lên được 2 tháng

F-2B: 01 tháng 3 năm 2002 so với tháng 3 năm 2010 tiến lên được 1 tháng

F-3: 22 tháng 5 năm 2001 so với tháng 3 năm 2010 tiến lên được 0 ngày

F-4: 01 tháng 3 năm 2000 so với tháng 3 năm 2010 tiến lên được 1 tháng 15 ngày.

Khi làm đơn bảo lãnh cho thân nhân ta nên lưu ý các điểm sau đây:

- Ngoài vợ/chồng, người chỉ có thẻ xanh không được phép bảo lãnh cho con có gia đình. Do đó, trong khi chờ visa mà người con lấy vợ/chồng thì đơn bảo lãnh của bố mẹ bị mất hiệu lực (invalid). Nghĩa là bố mẹ phải đợi có quốc tịch Mỹ rồi mới làm đơn bảo lãnh mới theo diện F-3.

Nhưng nếu người con lập gia đình khi bố mẹ đã có quốc tịch thì đơn bảo lãnh cũ không bị hủy bỏ nhưng sẽ bị đẩy xuống ưu tiên F-3.

- Người được anh chị em bảo lãnh thì độc thân hay có gia đình đều thuộc ưu tiên F-4. Do đó, sau khi được bảo lãnh dù có thay đổi tình trạng gia đình thì đơn bảo lãnh cũng không bị ảnh hưởng.

- Người đã có gia đình được bố mẹ có quốc tịch Mỹ bảo lãnh, nếu trong khi chờ visa mà ly dị thì sẽ được chuyển lên ưu tiên F-1.

* Về tác giả: Giáo Sư Hà Ngọc Cư hiện là Giám đốc Trung tâm CIS chuyên lo về di dân và tị nạn, văn phòng tại: 2701 Fannin, Suite # 100-107, Houston, TX 77002. Ðiện thoại: (713) 651-0371.

Tin cập nhật về thủ tục xin chiếu khán

* Darren Nguyen Ngoc Chuong, Esq.

Luật di trú Hoa Kỳ là loại luật rất phức tạp, do đó, theo yêu cầu của đa số bạn đọc cần am tường và thấu hiểu về luật này, tòa soạn nhật báo Người Việt mời Luật Sư Darren Nguyen Ngoc Chuong phụ trách mục “Tìm Hiểu Luật Di Trú,”đăng hàng tuần trên Người Việt. Luật Sư Darren Nguyen Ngoc Chuong là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất tại Orange County, California được Luật Sư Ðoàn Tiểu Bang California công nhận chuyên môn về ngành Luật Di Trú Hoa Kỳ. Hiện nay California có trên 226,388 luật sư nhưng chỉ có 151 luật sư có bằng chuyên môn về Luật Di Trú. Ngoài ra, Luật Sư Darren Nguyen Ngoc Chuong từng phục vụ lâu năm tại Sở Di Trú Hoa Kỳ (INS). Ông là một luật sư đầy kinh nghiệm và uy tín, chuyên trách giải quyết và phục vụ đồng hương Việt Nam về lãnh vực di trú nhiều năm tại California và khắp các tiểu bang Hoa Kỳ.

Sau khi đơn I-130 được chấp thuận, hồ sơ được chuyển qua National Visa Center (NVC) (tức là Trung Tâm Chiếu Khác Quốc Gia) để thu thập những chi phí chiếu khán và tài liệu cần thiết như đơn xin chiếu khán và bảo trợ tài chánh. Sau khi NVC nhận đầy đủ tài liệu, hồ sơ được chuyển qua Lãnh Sự Hoa Kỳ để lo thủ tục cấp chiếu khán. Ngoài việc xem xét sự liên hệ gia đình có chân thật hay không, Lãnh Sự Hoa Kỳ còn xem xét “người thừa hưởng” có lọt vào một trong những điều luật cấm nhập cảnh hay không. Ðơn I-130 được chấp thuận không có nghĩa là chiếu khán sẽ được cấp, nhưng chỉ có nghĩa là những tài liệu nộp vào chứng minh rằng “người thừa hưởng” là thân nhân được định nghĩa dưới những điều luật di trú và “người thừa hưởng” hội đủ điều kiện để nộp đơn xin chiếu khán di dân theo diện bảo lãnh thân nhân.

Trước đây, sau khi nộp mẫu bảo trợ tài chánh và mẫu đơn xin chiếu khán DS-230 cho National Visa Center (tức là trung tâm chiếu khán quốc gia) thì hồ sơ sẽ được chuyển về Việt Nam để được lên danh sách đi phỏng vấn. Khi đi phỏng vấn thì đương sự phải cầm theo những giấy tờ bản chánh và giấy tờ cần thiết. Thủ tục này đã được thay đổi. Theo phương sách hiện nay, giấy tờ bản chánh và những giấy tờ cần thiết cần phải được nộp trước cho trung tâm chiếu khán quốc gia trước khi hồ sơ được chuyển về cho lãnh sự để được phỏng vấn.

Những giấy tờ cần thiết phải được nộp cho trung tâm chiếu khán quốc gia là:

1. Bản sao của hộ chiếu có hình của đương sự và ngày hết hạn của hộ chiếu. Trung tâm chiếu khán quốc gia đòi hỏi là hộ chiếu phải còn hạng vì khi cấp chiếu khán, hộ chiếu phải còn giá trị ít nhất 6 tháng.
2. Bản chánh khai sanh hoặc bản sao có đóng mộc của cơ quan chính quyền chứng thực là sao y bản chánh.
3. Những đương sự nào có án phải nộp bản sao của bản án có đóng mộc của tòa. Bản án phải có ghi rõ tội trạng mà đương sự bị kết án và kết quả của bản án.
4. Nếu đương sự đã lập gia đình, cần phải nộp bản chánh hôn thú hoặc bản sao có mộc chánh của cơ quan chính quyền cấp.
5. Nếu đương sự nào đã lập hôn thú và đã ly dị, cần phải nộp bản chánh giấy ly dị hoặc bản sao có đóng mộc của tòa án. Nếu hôn nhân đã chấm dứt vì người phối ngẫu đã qua đời thì cần phải nộp bản chánh giấy khai tử hoặc bản sao có đóng mộc của cơ quan chính quyền.
6. Những đương đơn từ 16 tuổi trở lên cần phải nộp Phiếu Lý Lịch Tư Pháp do Bộ Tư Pháp cấp. Nếu đương sự có ở những quốc gia nào hơn 12 tháng khi đương sự đã 16 tuổi thì đương sự phải nộp giấy chứng là chưa từng phạm pháp.