vuongnha-y

Thursday, December 25, 2008

Bằng cấp nước ngoài khi xin học hoặc di trú ở Mỹ: dịch vụ thẩm định

Hoa kỳ chấp nhận bằng cấp và điểm học của nước ngoài trong nhiều trường hợp, chẳng hạnxin đi học, làm việc hoặc làm giấy tờ di trú.Tuy nhiên, để được xem xét, bạn phải gởi bằng cấp và bảng điểm cho một tổ chức, tại Hoa Kỳ,chuyên thẩm định bằng cấp nước ngoài (Credential Evaluation Service).Các trung tâm này sẽ đánh giá và “dịch” lại bằng cấp của bạntheokhung của hệ thống đại học Mỹ, giúp các trường hay tổ chức dễ dàng trong việc xem xét,đánh giá. Thí dụ, bằng “cử nhân đại học” hay “cử nhân đại học mở rộng” của Việt Nam, khi xét thấy đủ số tín chỉ đại học theo hệ thống giáo dục của Mỹ, đều sẽ được thẩm định là tương ứng với bằng “bachelor” của Mỹ.

Khi nào cần thẩm định bằng cấp?

Bạn cần phải nộp kết quả thẩm định bằng cấp và điểm nước ngoài trong những trường hợp sau:

* Thủ tục di trú: xin các loại visa làm việc ở Mỹ, như H1-B;
* Thủ tục xin học cao học hay tiến sĩ: khi nộp hồ sơ xin học cho trường; và
* Xin thi lấy giấy phép hành nghề: khi xin thi các kỳ thi giấy phép hành nghề như CPA, vào Luật Sư Đoàn.

Yêu cầu thẩm định của mỗi mục đích trên khác nhau. Thủ tục di trú chỉ đòi hỏi một kết quả thẩm định tóm tắt, cho biết bằng cấp nước ngoài của bạn tương đương bằng cấp gì ở Mỹ. Khi xin thi lấy giấy phép hành nghề thông thường bạn được yêu cầu nộp một thẩm định chi tiết hơn, liệt kê các mônđã học và số tín chỉ hoàn tất. Mỗi trường đại học có yêu cầu khác nhau, có thể chỉ cần thẩm định tóm tắt hoặc phải liệt kê chi tiết. Một số trường chỉ yêu cầu bạn nộp bằng cấp và bảng điểm gốc để họ tự thẩm định.

Ai thẩm định?

Từ năm 1970 việc thẩm định bằng cấp nước ngoài chủ yếu do các tổ chức tư nhân thực hiện hoặc do các trường đại học trực tiếp phụ trách. Hội National Association of Credential Evaluation Services (NACES)đưa ra một số hướng dẫn và tiêu chuẩn cho các tổ chức thẩm định thành viên. Đính kèm dưới đây là danh sách các tổ chức thẩm định (TCTĐ) thành viên của NACES để bạn tham khảo.

Những điều cần lưu ý khi chọn nơi thẩm định

Chính phủ Mỹ không có hướng dẫn hay qui định gì chi phối phương cách và tiêu chuẩn thẩm định. Vì vậy, mỗi TCTĐ có cách làm việc riêng và những tiêu chuẩn riêng.Thí dụ, Anh Quốc có bằng gọi là Higher National Diploma (HND). Nếu một sinh viên đã có bằng HND xin vào một trường đại học ở Anh Quốc, anh ta sẽ được nhận vào học năm thứ hai đại học để lấy bằng cử nhân. Nhưng, vẫn có một số TCTĐ ở Mỹ công nhận bằng HND như bằng cử nhân. Tương tự, bằng “cao đẳng” của Việt Nam cũng có thể được xem là tương đương cử nhân hay không tuỳ vào cách đánh giá của TCTĐ. Kết quả thẩm định của hai tổ chức khác nhau có thể mâu thuẫn nhau.

Những giấy tờ yêu cầu nộp để thẩm định cũng không đồng nhất. Hầu hết các TCTĐ chỉ yêu cầu nộp bản sao bằng cấp và bảng điểm không có công chứng, trừ một vài trường hợp như khi cần thẩm định để thi CPA, bạn có thể phải nộp bản gốc. Tuy nhiên, cũng có những TCTĐ ra điều kiện riêng là bằng cấp và bảng điểm từ một số nước nào đó (thường là những nước chậm phát triển, nơi phổ biến trường hợp giấy tờ giả, như Nga, Việt Nam) phải nộp bản gốc, hoặc đôi khi, du di hơn, bản sao có công chứng. Các bản gốc sẽ được trả về cho bạn sau khi thẩm định.

Một số TCTĐ nhận phiên dịch bảng điểm sang tiếng Anh; một số nơi khác yêu cầu bạn phải nộp bản dịch kèm theo; phải là bản dịch của một nơi chuyên môn về dịch thuật.

Khi chọn lựa nơi thẩm định, tốt nhất bạn nên gọi điện thoại để hỏi thông tin trước. Đầu tiên, phải bảo đảm rằng nơi bạn cần gởi điểm chấp nhận TCTĐ bạn chọn. Thông thường Phòng Tuyển Sinh của mỗi trường nơi bạn muốn học,Lãnh Sự Mỹ khi bạn xin visa làm việc, và ban tổ chức thi lấy giấy phép hành nghề, đều có công bố trên trang web của họ danh sách các TCTĐ họ “đề nghị tham khảo” hoặc “yêu cầu” sử dụng. Nếu họ không có hướng dẫn về TCTĐ bạn nên chọn một thành viên của NACES.

Khi nói chuyện với TCTĐ, hãy hỏi mức phí, thời gian chờ đợi, những giấy tờ cần cung cấp để thẩm định, và hỏi họ sơ lược với bảng điểm bạn mô tả, kết quả thẩm định sẽ có nội dung ra sao, công nhận bạn có bằng cấp gì. Chọn lựa nơi thẩm định tuỳ theo yêu cầu và mục đích của bạn. Thí dụ, nếu ở nước bạn dễ xin bảng điểm gốc nhưng khó xin thêm một bản gốc văn bằng, và bạn không thấy yên tâm phải gởi văn bằng gốc qua bưu điện (nhất là khi bạn phải gởi từ quê nhà sang Mỹ), bạn có thể tìm một tổ chức chấp thuận thẩm định bản gốc bảng điểm và bản sao bằng cấp.

Quá trình thẩm định

Sau khi liên lạc với TCTĐ, bạn phải nộp hồ sơ thẩm định và money order hay cheque trả tiền qua bưu điện. Phí thẩm định thường là từ $50 đến $250 tuỳ loại và mục đích thẩm định. Quá trình thẩm định thường mất khoảng 20 ngày, nhưng bạn nên gọi hoặc email nhắc nhở nếu thấy chưa nhận được kết quả trong vòng hai tuần.Sau khi thẩm định, TCTĐ sẽ gởi kết quả cho những nơi được bạn yêu cầu, đồng thời gởi cho bạn một bản.

Dưới đây là danh sách các TCTĐ thành viên của NACES:

Center for Applied Research, Evaluations, & Education, Inc.
P.O. Box 18358
Anaheim, CA 92817
Phone: (714) 237-9272
Fax: (714) 237-9279
email: eval_caree@yahoo.com
http://www.iescaree.com

Wednesday, December 17, 2008

Chúa Chổm Chơi Cha

Nguyễn Xuân Nghĩa & RFA
…Thị trường quốc trái là chiến trường không tiếng nổ....
Một tay quái chiêu trong nghệ thuật chính trị là James Carville đã có lời nguyện cho kiếp sau.
James Carville là cố vấn - và tác giả của nhiều đòn chính trị hiểm ác - cho Bill Clinton từ Thống đốc Arkansas lên làm Tổng thống hai nhiệm kỳ. Sau khi đan lượn trong hậu trường chính trị Hoa Kỳ, nhân vật này đã nguyện rằng kiếp sau ông sẽ đầu thai thành một tay có thế lực hơn mọi lãnh tụ hay chính khách: làm một con buôn trái phiếu - làm bond trader!
Trong kinh tế thị trường, như những phù thủy cao tay, loại con buôn ấy mới thực sự quyết định về sự chuyển vận của bạc tiền và thế lực! Bây giờ, vào cuối năm nay, có khi Carville đang cười...
Hoa Kỳ bị khủng hoảng tài chánh - "biết rồi, khổ lắm, nói mãi" - và khủng hoảng đang thấm sâu xuống kinh tế khiến cả thế giới rúng động. Vụ khủng hoảng bùng nổ vào giữa tháng Chín khi Chính quyền Hoa Kỳ khoanh tay cho tổ hợp đầu tư siêu đẳng Lehman Brothers bị phá sản. Từ đó, hoang mang hốt hoảng trở thành quy luật phổ biến...
Khi thị trường hốt hoảng, mọi người đều có phản ứng thủ thân là ghim tiền lại nghe ngóng tình hình, khiến cho tiền thì có mà vay không được vì không ai dám cho vay. Nạn "ách tắc tín dụng" bùng nổ làm tê liệt thị trường vay mượn tiền bạc và gây họa cho thị trường sản xuất. Trong ba tháng liền, giới hữu trách Hoa Kỳ đã áp dụng mọi biện pháp cấp cứu, từ kinh điển, cổ điển tới bất thường, để khuyến khích mọi người tung tiền ra xài, cho vay, hoặc đi vay để duy trì sinh hoạt kinh tế bình thường.
Một trong những tiêu chuẩn đo lường mức độ an toàn của chuyện vay mượn là lãi suất liên ngân hàng trên thị trường quốc tế, gọi là London Interbank Offered Rate hay LIBOR. Nếu lãi suất này hạ, điều đó có nghĩa là các ngân hàng yên tâm và trở lại sinh hoạt tài trợ bình thường. Trong tháng 11, lãi suất đó tại Mỹ đã hạ tới mức thấp nhất từ nhiều năm nay. Vậy mà sinh hoạt tài trợ vẫn chưa bình thường. Thiên hạ vẫn ngần ngại chuyện vay mượn làm giới hữu trách gãi đầu tìm hiểu: ngần ấy phương thuốc đều được áp dụng mà vì sao thị trường tài chánh vẫn bị tê liệt?
Lúc ấy, ta phải nhìn ra ngoài và tìm ra một tiêu chuẩn đo lường khác, của những phù thủy đã làm một tay quái chiêu như James Carville phải khâm phục: con buôn trên thị trường trái phiếu. Lúc ấy, người viết bài này phải tiến sâu hơn vào một chuyện chuyên môn - và xin cáo lỗi với độc giả.
Thị trường trái phiếu là nơi người ta mua bán giấy nợ ("Tang bồng hồ thỉ nam nhi trái, cái công danh là cái nợ nần", cụ Nguyễn Công Trứ đã dạy như vậy.) Giấy nợ ấy đảm bảo cho người mua một phân lời - yield, đừng gọi là lãi suất - cao hay thấp tùy theo mức độ rủi ro. Trái phiếu càng dài hạn thì phân lời càng cao vì... "mai sau mình biết thế nào" - đường càng xa càng nhiều bất trắc. Khi phân lời tăng thì trị giá của tờ giấy nợ ấy giảm.
Đấy là vài khái niệm xin gọi là chuyên môn để độc giả đừng sợ mà chịu khó đọc tiếp!..
Khi lãi suất liên ngân hàng LIBOR đã giảm mà thiên hạ vẫn chưa dám bung ra vay mượn, người ta phải tìm hiểu lý do và thấy ra một khoảng cách giữa lãi suất này với phân lời trái phiếu. Thí dụ là nếu loại trái phiếu có kỳ hạn ba tháng vẫn đòi hỏi một phân lời cao hơn lãi suất LIBOR tới vài trăm điểm (2,00% chẳng hạn) thì người ta phải thấy là thiên hạ vẫn còn lo sợ, nên khi cho vay trong một hạn kỳ chỉ có ba tháng mà vẫn đòi mức lời cao hơn... Khoản sai biệt ấy, thuật ngữ chuyên môn gọi là "spread" có nghĩa là thị trường tín dụng vẫn chưa yên tâm, còn sợ rủi ro.
Chuyện ấy xảy ra vào đầu tháng 11. Yếu tố rủi ro là một động lực giải thích vì sao thị trường chứng khoán vẫn cứ tuột giá, mặc dù dân Mỹ đầy trí tuệ đã bầu lên một vị cứu tinh rực sáng như Barack Obama!
Đấy là lúc Obama phải học lại bài học của Bill Clinton hay James Carville, rằng chính trường chẳng sai khiến được thị trường và lãnh đạo anh minh vẫn chưa bằng "bọn buôn trái phiếu chết tiệt" ("the fucking bond traders", theo ngôn ngữ huê dạng của Tổng thống Bill Clinton....)
Thế rồi một buổi chiều....
Một tháng sau thôi, một chuyện rất lạ vừa xảy ra.
Hôm mùng chín vừa qua, trong phiên bán đấu giá công khố phiếu Mỹ (trái phiếu do Chính quyền Hoa Kỳ phát hành), giới đầu tư trên thế giới đã ào ào mua vào, với phân lời rất bèo - lãi suất không phần trăm - nghĩa là phân lời âm, còn thấp hơn tỷ lệ mất giá của đồng bạc! Xin viết lại cho rõ: trong khi Hoa Kỳ đang bị khủng hoảng tài chánh và suy trầm kinh tế, trong khi khi bậc cứu tinh sáng thế Obama chưa tạo ra phép lạ - lại còn đang dính chấu về chuyện mua quan bán tước ở tiểu bang Illinois - giới có tiền trên thế giới đã xếp hàng cho Mỹ vay tiền.
Mà không cần lời!
Chuyện rất lạ!
Trong cả năm dài tranh cử, dân Mỹ - và truyền thông ngu ngơ của Mỹ lẫn mấy tay thông ngôn Việt Nam - dông dài nói về sự thoái trào của Hoa Kỳ vì khủng hoảng, tổng khủng hoảng, vì Bush, vì này, vì nọ. Quả nhiên là nước Mỹ khó khá! Nhưng, bên kia sông vẫn chưa là ánh mặt trời.
Sau khi tung hô Obama và ban phát cho Hoa Kỳ nhiều lời dạy bảo vàng ngọc, Âu Châu cũng tự trôi vào khủng hoảng và sẽ còn chìm rất sâu ở dưới đó. Việc đồng Euro sẽ truất ngôi thống trị của đồng Mỹ kim chỉ là giấc mơ hão huyền.
Gương mẫu của Mỹ với mấy lý thuyết quản trị X, Y, Z linh tinh, Nhật đang lùi vào suy trầm, lần thứ sáu trong 18 năm. Vì lãi suất quá hạ, giới đầu tư xứ này đem tiền ra ngoài kiếm lời trong khi khối lượng quốc trái của Nhật đã vượt mọi kỷ lục cổ kim và mỗi tuần Tokyo lại thông báo một mức suy trầm nặng hơn. Hôm mùng 10 tháng 12, khi Ngân hàng Thế giới vừa công bố phúc trình về viễn ảnh kinh tế Đông Á với những dự báo vẫn còn lạc quan - như thường lệ - về kinh tế và ngoại thương Trung Quốc, Bắc Kinh thú thật là lần đầu tiên từ bảy năm nay, xuất cảng của họ bị sụt. Hoa Lục đã hạ lãi suất, bơm tiền kích cầu và áp dụng mọi biện pháp cấp cứu cổ điển mà không tránh nổi chu kỳ thoái trào. Và chưa rõ là có thoát khỏi động loạn xã hội hay chăng.
Trong khi ấy, cả thế giới và nước Mỹ chỉ nói về khủng hoảng Hoa Kỳ!
Vậy mà khi Mỹ chìa tay xin vay, thiên hạ xếp hàng đưa tiền mà khỏi tính tiền lời. Các con buôn trái phiếu vốn không ưa làm chuyện phước thiện mà nay lại bấm bụng cho vay theo kiểu lỗ lã như vậy thì không phải vì yêu nước Mỹ. Họ suy tính cho kỹ thì thấy Mỹ vẫn là nơi có thể trao thân gởi phận. Thà không có lời còn hơn là mất sạch vốn!
Trong kinh doanh, ngoài lợi nhuận thì ai cũng phải nghĩ tới vế đối của vấn đề: mức an toàn. Thí dụ gần gũi là đầu tư vào Việt Nam: có lời rất cao nếu có quan hệ tốt. Nhưng quan hệ ấy là chuyện phù du và rủi ro mất vốn mới là thực tại phổ biến!
Vậy mà chuyện cho Chúa Chổm Hoa Kỳ vay tiền mà khỏi cần lấy lời chưa là chuyện ly kỳ nhất. Ly kỳ hơn cả là chuyện bên trong. Lại xin một chút chuyên môn nữa, xin độc giả thông cảm.
Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ đã kịch liệt cắt giảm lãi suất liên ngân hàng (lãi suất ngắn gạn các ngân hàng cho nhau vay) để giảm bớt phí tổn vay mượn hầu kích hoạt thị trường tín dụng và kích cầu kinh tế. Lãi suất ấy nay đã sát tới xương, hạ thấp hơn thì sẽ thành lãi suất âm. Nhật Bản đã thi hành loại biện pháp ấy trong 10 năm, từ 1991 đến 2002 mà không thoát khỏi nạn giảm phát, hàng họ xuống giá mà vẫn ế. Nguy cơ giảm phát khiến người ta nói đến hiện tượng "bẫy xập tiền tệ": tiền có sẵn mà không ai dám xài và hạ lãi suất cũng vô dụng như đẩy một sợi dây.
Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ bèn áp dụng một bài bản bất thường là in thêm tiền và đem tiền đó bơm thẳng vào doanh nghiệp, hoặc mua trái phiếu. Đó là giải pháp Nhật đã áp dụng từ 2002 đến 2006 và họ gọi là - xin lỗi - "lượng đích kim dung hoãn hoà chính sách" - nôm na kiểu Mỹ là "quantitative easing", hoặc gia tăng mức lưu hoạt tiền tệ một cách có định lượng. Nghĩa là sau khi điều chỉnh tiền tệ bằng "phẩm" là hạ lãi suất, và nói trước là sẽ giữ lãi suất ở mức rất thấp đó mà không xong thì nay họ điều chỉnh bằng lượng. Là in thêm tiền bơm thẳng vào kinh tế.
Giải pháp quái đản ấy tất nhiên có rủi ro gây ra lạm phát, ai cũng nói vậy. Giới hữu trách Mỹ cũng mong thế, mong là dân chúng sợ nạn lạm phát làm tài sản mất giá nên vội đem ra xài!
Chuyện ấy có gì là ly kỳ?
Ly kỳ ở một khía cạnh rất chướng. Đồng Mỹ kim là ngoại tệ được sử dụng phổ biến trên thế giới và nhiều quốc gia có dự trữ ngoại tệ lớn thường giữ đa số tài sản ấy của họ dưới dạng đô la. Bây giờ, Hoa Kỳ đang bị khủng hoảng nên lẳng lặng in thêm tiền ra cứu nguy kinh tế. Thuần về lý thuyết, khi in bạc ra xài thì đồng bạc tất nhiên mất giá, tài sản bằng Mỹ kim của các đại gia thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản hay khối Á Rập bán dầu tất nhiên cũng mất giá. Nếu như vậy, tất nhiên họ phải bán Mỹ kim đi để mua cái gì khác cho khỏi lỗ.
Nhưng mua cái gì bây giờ? Việc họ dồn tiền vào mua Công khố phiếu Mỹ cho thấy là đồng bạc xanh của Mỹ có thể như nhuốm màu cỏ úa, mà vẫn còn xanh hơn nơi khác!
Luân lý ngược ngạo của câu chuyện này, ta có thể tìm thấy tại... Las Vegas.
Bước vào sòng bạc, ta đưa chủ sòng một nắm tiền tươi để đổi lấy đồng "phỉnh" - ai nghĩ ra chữ này là người cực kỳ thông minh! - là những đồng sầu, đồng "chips". Bây giờ, chủ sòng thua bạc quá đậm nên định lại giá trị của đồng phỉnh: "từ nay, đồng xanh trị giá trăm bạc này chỉ còn năm chục thôi nhá!" Tại Las Vegas, ta còn có thể chạy qua sòng bên để thử thời vạn và khỏi bị mất tiền oan như vậy. Trên thị trường toàn cầu, ta còn sòng nào khác hay không?
Cho hay, Chúa Chổm mắc nợ vẫn có quyền chơi cha và cả thế giới đang xúm vào cứu lấy sòng bạc của Chú Sam. Các con buôn trái phiếu hiểu ra điều ấy hơn nhiều vị lãnh tụ anh minh ở trên đời. James Carville nói không sai!
NGUYỄN XUÂN NGHĨA & RFA

Tuesday, December 09, 2008

Bí quyết để được hưởng tối đa “financial aid” ở đại học (Kỳ 2)

Bí quyết để được hưởng tối đa “financial aid” ở đại học (Kỳ 2)
Wednesday, April 02, 2008

Phạm Khoa

(Kỳ 2)

Chính sách cấp financial aid của các trường: những điều hiếm ai biết

Các khoản bảo trợ của Chính phủ được cấp theo mức EFC hoặc theo điểm GPA của sinh viên. Các qui chế này khá rõ ràng. Nhưng các khoản tài trợ này có những giới hạn nhất định, nên sinh viên còn cần thêm tài trợ từ phía trường. Đa số các trường không bảo trợ toàn bộ. Mức bảo trợ của họ căn cứ vào những tiêu chí khác nhau, khá phức tạp và không được công bố rộng rãi.

Theo một nghiên cứu do US News thực hiện, các trường đại học sử dụng một lực lượng đáng kể các chuyên gia, đa số là các tiến sĩ kinh tế, để tính toán sao cho họ có thể “dành” được tối đa những sinh viên họ muốn, đồng thời giảm thiểu tối đa chi phí financial aid phải cấp cho sinh viên. Cuộc nghiên cứu này tiết lộ những thông tin sau về cách các trường đại học quyết định mức financial aid cho mỗi sinh viên:

Trình độ sinh viên – sinh viên có nhiều khả năng hơn, điểm học cao hơn, hoặc có những tài năng đặc biệt mà trường cần đến, như tài năng về thể thao, thường được hưởng nhiều financial aid hơn. Nhưng mức điểm như thế nào là cao? Cuộc nghiên cứu này cho thấy sinh viên với điểm SAT và GPA nằm trong mức “top 25%” của trường có khả năng cao nhất được hưởng đủ financial aid cho đến 70%-80% nhu cầu. Vì vậy, lời khuyên là nên nộp đơn vào những trường đại học nơi điểm GPA và SAT của bạn thuộc hàng “top 20%- 25%.” Đó là những nơi bạn có thể được hưởng tối đa financial aid.

Giới tính và sắc dân - Nhiều trường dùng “financial aid” làm công cụ để giúp tăng sự đa dạng trong cộng đồng sinh viên. Nếu trường đang có chính sách tăng tỉ lệ nữ sinh do thiếu nữ sinh, nữ sinh sẽ được hưởng nhiều financial aid hơn nam sinh có cùng điều kiện kinh tế và khả năng. Một số trường, ngược lại, sẽ ưu đãi hơn cho nam sinh vì họ thiếu nam sinh. Sắc dân cũng là một yếu tố khác có thể được cân nhắc trong chính sách về financial aid.

Cạnh tranh – Các trường cũng sẽ cạnh tranh nhau dành những sinh viên ưu tú, hoặc những sinh viên có một số đặc tính nào đó họ cần. Một nhà kinh tế thuộc trường California State University, ông David Lang, cho biết nghiên cứu của ông cho thấy những bằng chứng là sinh viên được vài trường khác nhau nhận được hưởng financial aid trung bình cao hơn các sinh viên khác khoảng 30%. Chuyên viên về financial aid của các trường sẽ nhìn vào mẫu FAFSA để xem những trường nào được sinh viên liệt kê trong đó. Theo họ, vấn đề không phải là bao nhiêu trường, mà là những trường nào. Trường sẽ có khuynh hướng cạnh tranh với những trường có đẳng cấp và chi phí học tương đương và ở trong cùng khu vực địa lý. Vì vậy, nếu sinh viên xem trường B là “lựa chọn số một,” nên xin vào một số trường khác có cùng đẳng cấp và chi phí như trường B, để tạo ra một không khí cạnh tranh. Có một vài chuyên viên cũng tiết lộ, trong danh sách các trường bạn liệt kê vào FAFSA, nếu bạn để tên trường B ở đầu tiên, trường B có thể cho rằng họ là “lựa chọn số một” của bạn, nên có thể sẽ không tăng financial aid của bạn lên để cạnh tranh với những trường khác.

Trường trung học -- Nhiều trường đại học đánh giá cao một số trường trung học nổi tiếng lâu đời, hoặc biết rõ các trường trung học này có khuynh hướng cho điểm khó khăn hơn bình thường. Nếu bạn học từ những trường trung học này, bạn cũng có thể sẽ hưởng nhiều financial aid hơn người khác trong năm đầu đại học.

Tóm lại, hai nguyên tắc vàng để được hưởng nhiều financial aid hơn là nộp đơn xin vào các trường đại học cạnh trạnh được với trường “lựa chọn số một” của bạn, và hãy xin vào những trường mà ở đó bạn thuộc vào nhóm “top 20-25%.”

Bí quyết để được hưởng tối đa “financial aid” ở đại học (Kỳ 1)

Bí quyết để được hưởng tối đa “financial aid” ở đại học (Kỳ 1)
Friday, March 28, 2008

Phạm Khoa

(Kỳ 1)

Khá nhiều trường đại học nổi tiếng có khuynh hướng tuyển những sinh viên ưu tú nhất và cố gắng bảo trợ toàn bộ chi phí. Tuy nhiên, ở hầu hết các trường khác, chế độ bảo trợ “financial aid” có thể rất phức tạp và nhiều ngóc ngách. Làm sao để được nhận vào những trường tốt nhất đồng thời hạn chế tối đa số tiền phải vay? Dưới đây là một số thông tin bạn cần biết…


“GIẢI MÔ CÔNG THỨC TÍNH “FINANCIAL AID”: EFC

Các khoản “financial aid” bạn có thể được hưởng bao gồm tiền bảo trợ không cần hoàn lại của Chính phủ Liên Bang và Tiểu Bang, các khoản vay có bảo trợ lãi suất của Chính phủ và tiền bảo trợ do chính trường đại học cấp, dưới hình thức không hoàn lại hoặc học có làm việc cho trường.

Để tính số tiền “financial aid” bạn được hưởng, Bộ Giáo Dục và các trường đại học sử dụng khái niệm “phần gia đình phải tự trang trải” (Expected Family Contribution, EFC). EFC đưa vào công thức tính “financial aid” cả thu nhập lẫn tài sản của gia đình để xác định khả năng tự trang trải tiền học. Khi lấy tổng chi phí học tập theo dự tính trừ đi EFC, kết quả sẽ là khoản thiếu hụt mà Chính phủ và trường đại học cố gắng hỗ trợ bạn trang trải bằng “financial aid.”

Ở một số trường công và trường tư danh tiếng, có thể bạn sẽ được bảo trợ đủ bù đắp khoản thiếu hụt mà không cần vay, hoặc chỉ phải vay một khoản nhỏ do trường xác định, như $4,000 hay $5,000 một năm. Trong số này có Stanford University, Harvard University và California Institute of Technology. Tuy nhiên, ở nhiều trường khác, mức bảo trợ sẽ tùy thuộc vào nhiều yếu tố được cân nhắc trong chính sách riêng của trường.

Xin nhắc lại, EFC được tính căn cứ vào tài sản và thu thập của cha mẹ và sinh viên. Trong năm học 2008-2009, đối với sinh viên còn phụ thuộc cha mẹ, EFC sẽ bao gồm 12% tài sản của cha mẹ, 100% thu nhập của cha mẹ, 20% tài sản của sinh viên và 50% thu nhập của sinh viên. Đối với sinh viên sống độc lập, EFC sẽ bao gồm 20% tài sản và 50% thu nhập của sinh viên.

Nếu cha mẹ sinh viên có thu nhập không quá $20,000 và thoả điều kiện để khai thuế theo mẫu 1040A hoặc 1040EZ, sinh viên sẽ đương nhiên được xem như có EFC bằng 0.

NHỮNG CÁCH GIẢM EFC HỢP PHÁP

Vì EFC là yếu tố chủ yếu trong mọi công thức tính tiền bảo trợ nên số tiền bảo trợ sẽ giảm theo mức tăng của EFC. Ví dụ, tính riêng khoảng Pell Grant, một khoản tài trợ của Liên Bang, mức tài trợ sẽ là 0 nếu EFC lên tới $4,111, mức tài trợ tăng lên đến $980/học kỳ nếu EFC xuống còn $2,301 và lên đến $2,155/học kỳ khi EFC xuống mức 0. Ở những trường bảo trợ toàn bộ, EFC giảm thêm $5,000 có nghĩa là bạn sẽ có thêm $5,000 tiền bảo trợ của trường.

Những lưu ý dưới đây sẽ giúp giảm EFC một cách hiệu quả và hợp pháp:

Đối với sinh viên còn lệ thuộc cha mẹ, giữ các khoản tiền để dành và tài sản khác dưới tên cha mẹ, thay vì tên của sinh viên. Như đã kể ở trên, có đến 20% tài sản của sinh viên được tính vào EFC, trong khi chỉ có 12% tài sản của cha mẹ được tính. Tài khoản tiết kiệm hay cổ phiếu, chẳng hạn, nên giữ dưới tên cha mẹ. Nếu cha mẹ hay ông bà có ý muốn tặng cho sinh viên quà hay tiền đáng giá, nên chờ cho đến khi sinh viên tốt nghiệp xong đại học. Nếu có nhu cầu mua sắm, tiêu dùng cho sinh viên, nên chi tiêu bằng tài sản của sinh viên trước. Thí dụ, nếu cần mua xe hơi cho sinh viên, mua bằng tiền trong tài khoản của sinh viên trước khi dùng đến tiền của cha mẹ. Tài khoản tiết kiệm giáo dục 529 được xem như tài sản của cha mẹ chứ không phải của sinh viên.

Nếu có nhu cầu, thực hiện các khoản tiêu dùng lớn sớm hơn, trước ngày làm tờ khai xin financial aid (FAFSA). Các tài sản có tính tiêu dùng hàng ngày như: xe hơi, máy vi tính, thuyền buồm, trang bị nội thất, sách vở, không bị xem là “tài sản” trong công thức EFC. Vì vậy, nếu bạn nghĩ rằng sẽ phải sắm những thứ này, hãy mua sớm hơn, trước khi làm tờ khai FAFSA, để giảm số tiền trong tài khoản ngân hàng vốn bị xem là tài sản riêng.

Trả các khoản nợ tiêu dùng sớm. Các khoản nợ thẻ tín dụng và nợ mua xe hơi không giúp làm giảm tài sản của bạn khi tính EFC. Nếu có quá nhiều tiền mặt trong ngân hàng, nên trả các khoản nợ này để giảm quỹ tiền mặt.

Không nên để phát sinh tiền lời cổ phiếu và trái phiếu vào năm tài chính trước năm nhập học. Muốn vậy, hãy bán cổ phiếu và trái phiếu đi từ đầu năm đó. Tiền lời cổ phiếu/trái phiếu sẽ bị xem là thu nhập.

Nếu thu nhập của cha mẹ ở gần mức $50,000, giữ không để thu nhập vượt mức này, nhất là khi cha mẹ có nhiều tài sản. Nếu cha mẹ sinh viên có thu nhập không quá $49,999 và thỏa điều kiện để khai thuế theo mẫu 1040A hoặc 1040EZ, sinh viên được tính EFC theo Công thức Giản tiện. Công thức Giản tiện không tính giá trịtài sảnvào EFC, dođó rất có lợi khi cha mẹ thực tế sở hữu nhiều tài sản. Một vài cách có thể giúp giảm thu nhập là xin nghỉ phép không hưởng lương và bán đi những chứng khoán xấu để phát sinh lỗ chứng khoán. Nếu có doanh nghiệp gia đình, có thể giảm lương trả cho cha mẹ trong năm đó.

Ở mức có thể và phù hợp, chuyển tài sản gia đình sang thành tài sản doanh nghiệp. Theo HERA 2005, những gia đình có cơ sở kinh doanh sử dụng không quá 100 nhân công toàn thời gian sẽ không phải gộp tài sản của cơ sở kinh doanh vào tổng tài sản khi tính EFC. Thí dụ, cha mẹ sinh viên A có tài sản trị giá $100,000 và đang sở hữu một cơ sở kinh doanh trị giá $800,000. Theo HERA 2005, khi xét trợ cấp, chỉ có phần $100,000 bị tính là tài sản, tăng EFC lên chỉ có $12,000, tức 100,000x12%. Trước đây, tài sản trường hợp này bị xác định là $900,000, làm tăng EFC lên đến $108,000, một sự cách biệt rất lớn. Theo Phòng Thống kê Hoa Kỳ, hiện có 98% trong số 5.8 triệu doanh nghiệp ở Hoa Kỳ sử dụng dưới 100 nhân công. Để được áp dụng HERA 2005, cơ sơ kinh doanh phải do gia đình sở hữu và kiểm soát ít nhất 50%. Một điều hết sức thuận lợi nữa là nếu gia đình sinh viên đang sở hữu hai cơ sở kinh doanh khác nhau và mỗi cơ sở kinh doanh đều sử dụng dưới 100 nhân công, giá trị của của cả 2 cơ sở kinh doanh này vẫn không bị đưa vào tổng tài sản gia đình.

(Kỳ sau: Chính sách cấp financial aid của các trường: những điều hiếm ai biết)